ngân hàng thương mại

Khái niệm và đặc điểm hoạt động NHTM

Khái niệm

Khi nền sản xuất hàng hoá đã phát triển đến một trình độ nhất định, lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ đã được mở rộng thì trong nền kinh tế cũng đồng thời xuất hiện những người nắm giữ một khoản tiền tạm thời không dùng đến và những người cần tiền trong một khoảng thời gian nhất định để kinh doanh. Trước tình hình đó, vào nửa cuối thế kỷ 16 ở Châu Âu đã ra đời một số Ngân hàng đầu tiên mà tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi chuyển hoá thành. Lúc này hoạt động của Ngân hàng mới chỉ là nhận giữ hộ tiền và cho vay.

Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động của NHTM cững từng bước được củng cố và hoàn thiện, chuyển hoá dần theo hướng đa năng. ở Việt Nam, theo Luật các Tổ chức Tín dụng, nhà lập pháp định nghĩa rằng “ Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.

Đặc điểm của hoạt động NHTM

Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích kiếm lời ( bao gồm 2 hình thức chủ yếu là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân hàng). Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau để cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Còn hoạt động dịch vụ Ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán, ngoại hối và chứng khoán để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàng trong một thời hạn nhất định nhằm mục đích thụ hưởng tiền công dịch vụ do khách hàng chi trả dưới dạng phí hay hoa hồng.

* Thứ hai, hoạt động NHTM là loại hình hoạt động kinh doanh có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn đầy đủ những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định ( vốn pháp định, phương án kinh doanh,…) thì mới được phép hoạt động trên thị trường.

Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều so với các loại hình kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, mang tính chất dây truyền đối với nền kinh tế. Sở dĩ nói như vậy là vì, trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ, do các NHTM phải tiến hành huy động vốn của người khác để cấp tín dụng cho khách hàng và trên nguyên tắc NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra khả năng rủi ro cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy, hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế gới thường được điều chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.

Các hoạt động chủ yếu của NHTM

Hoạt động và vai trò của NHTM không phải là bất biến, mà liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Ngày nay, hoạt động của NHTM rất phong phú và đa dạng, tuỳ điều kiện kinh tế và mức độ phát triển kỹ thuật của mỗi quốc gia mà các nghiệp vụ kinh doanh của các NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ.

Nếu căn cứ vào bảng tổng kết tài sản của NHTM thì hoạt động của NHTM bao gồm: Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản và Các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản.

Bảng tổng kết tài sản của NHTM

Tài sản( Tính lỏng giảm dần) Nguồn vốn
– Dự trữ- Các chứng khoán- Cho vay- Tài sản khác – Tiền gửi- Tiền vay- Vốn của ngân hàng- Nguồn vốn khác

Các hoạt động trong bảng tổng kết tài sản:

Bảng tổng kết tài sản của NHTM phản ánh ba lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: Huy động vốn, Sử dụng vốn và Nghiệp vụ môi giới trung gian.

Huy động vốn

Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM. Khi một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy động ở một số nguồn chính như : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mượn và một số nguồn khác.

* Huy động từ chủ sở hữu:

Về khía cạnh kinh tế, vốn chủ sở hữu là vốn riêng có của NHTM do các chủ sở hữu đóng góp và các quỹ của ngân hàng được hình thành trong quá trình kinh doanh được thể hiện ở dạng lợi nhuận để lại. Nguồn vốn này có tính ổn định cao, NHTM không phải hoàn lại. Nó có vai trò quan trọng trong việc tài trợ cho các hoạt động mở rộng quy mô của các NHTM ( liên doanh, liên kết, mở rộng mạng lưới,…). Các NHTM thường huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ phát hành cổ phiếu, trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của Ngân sách Nhà nước,… Nhìn chung việc huy động dưới hình thức nào là do tính chất sở hữu của NHTM quyết định.

* Huy động từ tiền gửi:

Nguồn vốn từ chủ sở hữu thường có tỷ lệ nhỏ so với số tiền mà NHTM sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Vì vậy phần lớn là NHTM phải huy động từ nguồn tiền gửi. Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này là NHTM chỉ được quyền sử dụng nó trong một thời gian nhất định còn quyền sở hữu nó thuộc về những người gửi tiền. Dựa vào tính khả dụng của vốn thì NHTM có thể huy động dưới các hình thức sau:

Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi hoàn toàn theo mục đích khả dụng. Mục đích của khách là muốn sử dụng các tiện ích của NHTM cung ứng. NHTM có nhiệm vụ phải chi trả bất cứ lúc nào mà khách hàng yêu cầu.

– Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi có sự tham thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Trong thời gian này ngân hàng có quyền chủ động sử dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trước hạn phải được sự đồng ý của ngân hàng.

– Tiền gửi tiết kiệm: Đây là một bộ phận thu thập bằng tiền của các cá nhân tạm thời nhàn rỗi được gửi vào NHTM dưới nhiều hình thức: Tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm mua nhà,… Với mục đích chủ yếu là tiết kiệm và sinh lời.

* Nguồn vay mượn:

Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của khách hàng, các NHTM có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở Ngân hàng trung ương, ở các NHTM khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài,… Vốn đi vay thông thường chiếm tỷ trọng không lớn trong kết cấu nguồn vốn. Tuy nhiên, nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho Ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường.

* Huy động từ các nguồn khác: Ngoài một số nguồn cơ bản trên thì NHTM có thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ Ngân hàng đại lý, Ngân hàng phục vụ,… uy tín của NHTM là cơ sở quan trọng để mở rộng nguồn vốn này.

Sử dụng vốn:

Huy động được vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc để hiệu quả hoá những nguồn vốn huy động được. Với mục tiêu chủ yếu là an toàn và sinh lời, hoạt động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: Dự trữ, Cho vay và Đầu tư.

* Dự trữ:

Sự trữ là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng. NHTM phải duy trì một bộ phận vốn ( bằng tiền mặt) để thực hiện nghiệp vụ dự trữ. Mức dự trữ này cao hay thấp tuỳ thuộc vào qui mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi trả tiền mặt.

Tiền dự trữ bao gồm: Dự trữ bắt buộc và dự trữ thặng dư. Chúng được hình thành bởi các nguồn: Tiền mặt tại két của NHTM, Tiền gửi tại Ngân hàng trung ương, Tiền gửi ở các tổ chức tín dụng, Tiền đang trong quá trình thu.

* Cho vay:

Cho vay là nghiệp vụ chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Nguồn thu từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng. Tuy nhhiên, nó cũng là lĩnh vực có nhiều rủi ro và phức tạp nhất.Rủi ro tín dụng có thể do ý muốn chủ quan của ngân hàng như : Xây dựng chiến lược sai, Thẩm định hồ sơ không chính xác, Cho vay không tuân theo nguyên tắc,… cũng có thể do nguyên nhân khách quan như: Hoả hoạn, lũ lụt,… Hoạt động cho vay liên quan chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế từ tiêu dùng đến sản xuất kinh doanh. Do vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng nhằm thoả mãn nhu cầu về vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho ngân hàng. Các hình thức cho vay chủ yếu như: Cho vay ngắn hạn, Cho vay trung và dài hạn, Cho vay có đảm bảo,…

* Đầu tư: Hoạt động này bao gồm đầu tư chứng khoán và các hoạt động đầu tư khác:

– Đầu tư chứng khoán: Nghiệp vụ này mang lại cho NHTM một khoản lợi nhuận tương đối lớn ( sau cho vay). Trong trường hợp chưa tìm ra khách hàng đáng tin cậy để cho vay thì đầu tư chứng khoán là nơi giải quyết vốn một cách hữu hiệu nhất cho NHTM. Tuy nhiên, nó cũng chứa nhiều rủi ro. Vì vậy NHTM cần phân tích kỹ lưỡng trước khi lựa chọn loại chứng khoán nào để đầu tư.

– Ngoài ra, NHTM có thể đầu tư nhằm mục đích sinh lợi bằng nhiều hình thức khác như góp vốn liên doanh, đầu tư vào trang thiết bị,…

-Hoạt động môi giới trung gian

Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng. Thực hiện các hoạt động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu nhập khá quan trọng. Điều cần lưu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM phát triển toàn diện. ở các nước phát triển, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng con đường “ phi giá”, tức là luôn có những dịch vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng. Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển thể hiện xã hội công bằng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển. Lợi nhuận của NHTM không chỉ ở đầu tư, cho vay, mà gần phần nửa ở các dịch vụ, nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro.

Nghiệp vụ trung gian của NHTM rất đa dạng và phong phú như : Dịch vụ chuyển tiền từ địa phương này sang địa phương khác, Dịch vụ chuyển khoản, Dịch vụ khấu trừ tự động, Thu chi hộ,… Qua đó NHTM sẽ thu được một khoản phí dịch vụ.

Các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản:

Ngoài các giao dịch được phản ánh trong nội bảng ( huy động vốn, sử dụng vốn, môi giới trung gian), các NHTM còn tham gia vào hoạt động chưa được thừa nhận là tài sản nợ hoặc tài sản có. Các hoạt động này hiện đang được theo dõi ở các tài khoản ngoại bảng. Một số hoạt động ngoại bảng chủ yếu như: Bảo lãnh công nợ, các hợp đồng có liên quan đến lãi suất, các giao dịch về hối đoái như giao dịch Swaps, Options, Futrues, các chứng từ có giá,… Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không làm thay đổi kết cấu, cân số của bảng tổng kết tài sản, nhưng vì nó cũng là một hiện tượng kinh tế phát sinh trong quá tình kinh doanh nên độ rủi ro của nó cũng tác động mạnh mẽ đến độ an toàn của NHTM.

Do đó, khi phân tích hoạt động của NHTM, bên cạnh việc nghiên cứu các hoạt động bảng tổng kết tài sản, các nhà quản trị cần phải quan tâm đến mức độ và diễn biến các hoạt động ngoại bảng vì độ rủi ro của các hoạt động này cũng làm ảnh hưởng không ít đến kết quả kinh doanh chung của NHTM.

Tóm lại, hoạt động của NHTM luôn gắn liền với nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển cao, hoạt động của NHTM càng đa dạng và phong phú. Hơn nữa, các hoạt động của NHTM có mối quan hệ rất chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM.

Advertisements
Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG ĐỊCH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

– Khái niệm:  Dân tộc là cộng đồng người ở ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lí, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc. Khái niệm này được hiểu:

          + Các thành viên cùng dân tộc sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng mẹ đẻ) để giao tiếp nội bộ. Các thành viên cùng chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá, vật chất, tinh thần, tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc.

          + Dân tộc được hiểu theo nghĩa cộng đồng quốc gia dânt ộc, là một cộng đồng chính trị – xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ chung như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Trung Hoa…

2.2.2 Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam và quan điểm chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay

– Khái quát đặc điểm các dân tộc ở nước ta hiện nay

Việt Nam là một quốc gia dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc cùng sinh sống. Các dân tộc Việt Nam có các đặc trưng sau:

          + Một là, các dân tộc ở Việt Nam có truyền thống đoàn kết, gắn bó xây dựng quốc gia dân tộc thống nhất. Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam. Các dân tộc Việt Nam đều có chung cội nguồn, chịu ảnh hưởng chung của điều kiện tự nhiên, xã hội, chung vận mệnh dân tộc, chung lợi ích cơ bản – quyền được tồn tại, phát triển. Đoàn kết, thống nhất đã trở thành giá trị tinh thần truyền thống quí báu của dân tộc, là sức mạnh để dân tộc ta tiếp tục xây dựng và phát triển đất nước

          + Hai là, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ trên địa bàn rộng lớn, chủ yếu là miền núi, biên giới, hải đảo. Không có dân tộc thiểu số nào cư trú duy nhất trên một địa bàn mà không xen kẽ với một vài dân tộc khác. Nhiều tỉnh miền núi các dân tộc thiểu số chiếm đa số dân như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu…

          + Ba là, các dân tộc ở nước ta có qui mô dân số và trình độ phát triển không đồng đều. Theo số liệu điều tra dân số năm 1992, nước ta có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh có 65,9 triệu người, chiếm 86,2% dân số cả nước, 53 dân tộc thiểu số có 10,5 triệu người, chiếm 13,8 dân số cả nước. Dân số của các dân tộc thiểu số cũng chênh lệch. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các dân tộc không đều nhau. Có dân tộc đã đạt đến trình độ phát triển cao, đời sống đã tương đối khá như dân tộc Kinh, Hoa, Tày, Mường, Thái…, nhưng cũng có những dân tộc trình độ phát triển còn thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn như một số dân tộc ở Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên…

          + Bốn là, mỗi dân tộc ở Việt Nam đều có sắc thái văn hoá riêng, góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú, thống nhất của văn hoá Việt Nam. Các dân tộc đều có sắc thái văn hoá về nhà cửa, ăn mặc, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và ý thức dân tộc riêng. Đồng thời các dân tộc cũng có điểm chung thống nhất về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, ý thức quốc gia dân tộc. Sự thống nhất trong đa dạng là đặc trưng của văn hoá các dân tộc ở Việt Nam

– Quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay:

Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn có quan điểm nhất quán: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc tạo mọi điều kiện  để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”. Công tác dân tộc ở nước ta hiện nay, Đảng và Nhà nước ta tập trung

          + Khắc phục sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các dân tộc; nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, kì thị, chia rẽ dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc gây mất ổn định chính trị – xã hội, chống phá cách mạng; thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm cho tất cả các dân tộc ở Việt Nam đều phát triển, ấm no, hạnh phúc

          + Văn kiện Đại hội X chỉ rõ quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiêng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triẻn kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ địa cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biẻu hiện kì thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

PHÒNG CHỐNG ĐỊCH TIẾN CÔNG HOẢ LỰC BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO

BÀI 2: PHÒNG CHỐNG ĐỊCH TIẾN CÔNG HOẢ LỰC BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. Mục đích

Nhằm trang bị cho học sinh, sinh viên những kiến thức cơ bản về khái niệm, đặc điểm, thủ đoạn đánh phá và khả năng sử dụng vũ khí công nghệ cao của địch trong chiến tranh tương lai (nếu xảy ra)

2. Yêu cầu

Nắm được những kiến thức cơ bản về vũ khí công nghệ cao. Tiếp tục nghiên cứu, nâng cao nhận thức trong phòng tránh vũ khí công nghệ cao

II. NỘI DUNG

Trong tương lai, nếu xảy ra chiến tranh, vũ khí công nghệ cao sẽ được kẻ địch sử dụng chủ yếu để thực hiện mưu đồ xâm lược nước ta. Vì vậy, việc nghiên cứu và tìm ra biện pháp phòng tránh, đánh trả có hiệu quả tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao của địch có ý nghĩa rất quan trọng để giành thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

1. Khái niệm, đặc điểm, thủ đoạn đánh phá và khả năng sử dụng vũ khí công nghệ cao của địch trong chiến tranh.

1.1. Khái niệm:

Vũ khí công nghệ công nghệ cao là vũ khí được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kỹ thuật, chiến thuật.

Khái niệm trên thể hiện một số nội dung chính sau:

–         Vũ khí công nghệ cao được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dưạ trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

–         Có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng chiến thuật, kỹ thuật

1.2. Đặc điểm của vũ khí công nghệ cao

Vũ khí công nghệ cao có một số đặc điểm nổi bật đó là:

–         Hiệu suất của vũ khí, phương tiện tăng gấp nhiều lần so với vũ khí, phương tiện thông thường, hàm lượng tri thức, kỹ năng tự động hoá cao, tính cạnh tranh cao, được nâng cấp liên tục, giá thành rẻ.

–         Vũ khí công nghệ cao hay còn gọi là vũ khí “thông minh”, vũ khí “tinh khôn” bao gồm nhiều chủng loại khác nhau như: vũ khí huỷ diệt lớn (hạt nhân, hoá học, sinh học…), vũ khí được chế tạo dựa trên những nguyên lý kỹ thuật mới (vũ khí chùm tia, vũ khí laze, vũ khí chùm hạt, pháo điện từ…)

Thế kỷ 21, vũ khí “thông minh” dựa trên cơ sở tri thức sẽ trở nên phổ biến. Điển hình là đạn pháo, đạn cối điều khiển bằng laze, rađa hoặc bằng hồng ngoại. Bom, mìn “thông minh” kết hợp với các thiết bị trinh thám để tiêu diệt mục tiêu. Tên lửa “thông minh” có thể tự phân tích, phán đoán và ra quyết định tiến công, tiêu diệt mục tiêu. Súng “thông minh” do máy tính điều khiển có thể tự đọng nhận biết chủ nhân, có nhiều khả năng tác chiến khác nhau, vừa có thể bắn đạn thông thường hoặc phóng lựu đạn. Xe tăng “thông minh” có thể vượt qua các chướng ngại vật, nhận biết các đặc trưng khác nhau của mục tiêu, mức độ uy hiếp của mục tiêu và điều khiển vũ khí tiến công mục tiêu, nhờ có hoả lực và sức đột kích rất mạnh….

 

Tóm lại: Vũ khí công nghệ cao có những đặc điểm nổi bật sau

–         Khả năng tự động hoá cao

–         Tầm bắn (phóng) xa

–         Độ chính xác cao

–         Uy lực sát thương lớn

1.3. Thủ đoạn đánh phá và khả năng sử dụng vũ khí công nghệ cao của địch trong chiến tranh

Tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là phương thức tiến hành chiến tranh kiểu mới, đồng thời là biện pháp tác chiến của địch. Thực tế trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, chủ nghĩa Đế quốc đã khai thác các thành tựu khoa học và công nghệ mới nhất để chế tạo các kiểu vũ khí hiện đại hòng giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh như công nghệ hồng ngoại, công nghệ nhìn đêm, công nghệ gây nhiễu. Nhiều loại vũ khí “thông minh” ra đời và được sử dụng lần đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam…Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Việt Nam đã chứng kiến sự thất bại thảm hại của địch trong việc sử dụng các loại vũ khí hiện đại nhất lúc đó trước trí thông minh, sự sáng tạo và lòng dũng cảm vô song của con người Việt Nam

Chiến tranh tương lai (nếu xảy ra) đối với đất nước ta, địch sẽ sử dụng phương thức tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là chủ yếu. Nhằm mụch đích giành quyền làm chủ trên không, làm chủ chiến trường, phá hoại kinh tế, quốc phòng, đánh quỵ khả năng chống trả của đối phương, tạo thuận lợi cho các lực lượng tiến công trên bộ, trên biển, đổ bộ đường không và các hoạt động bạo loạn lật đổ của lực lượng phản động nội địa trong nước, gây tam lý hoang mang, lo sợ trong nhân dân. Qua đó gây sức ép về chính trị để đạt mục tiêu chính trị hoặc buộc chúng ta phải chập nhận điều kiện chính trị do địch đặt ra.

Nếu chiến tranh xảy ra trên đất nước ta, có thể xuất phát từ nhiều hướng: trên bộ, trên không, từ biển vào, có thể diễn ra cùng một lúc ở chính diện và chiều sâu, trên phạm vi toàn quốc với nhịp độ cao, cường độ lớn ngay từ đầu và trong suốt quá trình chiến tranh. Tiến công hoả lức bằng vũ khí công nghệ cao của chủ nghĩa Đế quốc vào Việt Nam (nếu xảy ra) có thể là một giai đoạn trước khi đưa quân đổ bộ đường biển hoặc đưa quân tiến công trên bộ, với qui mô và cường độ ác liệt từ nhiều hướng, vào nhiều mục tiêu cùng một lúc. Đánh phá ác liệt từng đợt lớn, dồn dập, kết hợp với đánh nhỏ lẻ, liên tục ngày đêm, có thể kéo dài vài giờ hoặc nhiều giờ, có thể đánh phá trong một vài ngày hoặc nhiều ngày…

Nghiên cứu, khảo sát một số cuộc chiến tranh cục bộ gần đây, đich sử dụng vũ khí công nghệ cao ngày càng nhiều ví dụ: Vùng Vịnh lần thứ nhất vũ khí công nghệ cao 10%, chiến dịch “Con cáo sa mạc” 50%, Nam Tư 90%.

–         Trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh, ngày 17-01-1991 MỸ phóng 45 quả tên lửa hành trình Tomahawk, có 7 quả bị hỏng, 1 quả bị lực lượng phòng không bắn rơi còn 37 quả trúng mục tiêu, tỷ lệ 67%. Trong chiến dich “Con cáo sa mạc” từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 12 năm 1998 Mỹ sử dụng 650 lần trên chiếc máy bay phóng 415 tên lửa hành trình trong đó có 325 tên lửa Tomahawk phóng từ tàu biển, 90 quả AGM- 86 phóng từ máy bay, dự kiến khả năng 100/ 147 mục tiêu của I-Rắc bị phá huỷ. Tuy nhiên tên lửa hành trình của Mỹ và liên quân chỉ đánh trúng khoảng 20%, vì I- Rắc đã có kinh nghiệm phòng tránh.

–         Chiến tranh I- Rắc lần 2 (2003) chỉ sau 27 ngày đêm tiến công, Mỹ, Anh đã thực hiện 34000 phi vụ, phóng hơn 1000 tên lửa hành trình các loại, trong đó hơn 800 Tomahawk, hơn 14000 bom đạn có điều khiển chính xác. Từ những khảo sát thực tế trên, rút ra một số điểm mạnh và yếu sau:

+ Điểm mạnh:

  • Độ chính xác cao, uy lực sát thương lớn, tầm hoạt động xa.
  • Có thể hoạt động trong những vùng nhiễu, thời tiết phức tạp, ngày, đêm, đạt hiệu quả cao hơn hàng chục đến hàng trăm lần so với vũ khí thông thường.
  • Một số loại vũ khí công nghệ cao được gọi là vũ khí “thông minh” có khả năng nhận biết địa hình và đặc điểm mục tiêu, tự động tìm diệt…

 

+ Điểm yếu:

  • Thời gian trinh sát, sử lý số liệu để lập trình phương án đánh phá phức tạp, nếu mục tiêu thay đổi dễ mất thời cơ đánh phá.
  • Dựa hoàn toàn vào các phương tiện kỹ thuật, dễ bị đối phương đánh lừa
  • Một số loại tên lửa hành trình có tầm bay thấp, tốc độ bay chậm, hướng bay theo qui luật…dễ bị bắn hạ bằng vũ khí thông thường
  • Tác chiến công nghệ cao không thể kéo dài vì quá tốn kém. Dễ bị đối phương tập kích vào các vị trí triển khai của vũ khí công nghệ cao.
  • Dễ bị tác động bởi địa hình, thời tiết, khí hậu dẫn đến hiệu quả thực tế khác với lý thuyết. Do đó, nên hiểu đúng đắn về vũ khí công nghệ cao, không quá đề cao dẫn đến tam lý hoang mang khi đối mặt. Ngược lại, cũng không nên coi thường dẫn đến chủ quan mất cảnh giác.

2. Một số biện pháp phòng chống địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao

2.1. Biện pháp thụ động

– Phòng chống trinh sát của địch:

Hệ thống trinh sát phát hiện và giám sát mục tiêu là một trong những hệ thống bảo đảm quan trọng nhất của vũ khí công nghệ cao. Muốn làm tốt công tác phòng chống trinh sát của địch, trước tiên cần xác định rõ ý thức chống trinh sát, sau đó mới áp dụng các biện pháp, phương pháp đối phó cho phù hợp, cụ thể:

+ Làm hạn chế đặc trưng của mục tiêu

Hệ thống trinh sát hiện đại khi thực hành trinh sát đều thông qua việc tìm kiếm các đặc trưng vạt lý do mục tiêu bộc lộ để phát hiện. Vì vậy, sử dụng các thủ đoạn chiến thuật, kỹ thuật giảm thiểu đặc trưng vật lý của mục tiêu, xoá bỏ sự khác biệt giữa mục tiêu với môi trường xung quanh là sự vận dụng và phát triển của kỹ thuật nguỵ trang truyền thống. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật giảm bớt các đặc trưng ánh sáng, âm thanh, điện từ, bức xạ hồng ngoại… của mục tiêu là có thể dấu kín được mục tiêu.

+ Che giấu mục tiêu:

Lợi dụng môi trường tự nhiên như địa hình, địa vật, rừng cây, bụi cỏ…để che giấu mục tiêu, có thể làm suy giảm thậm chí ngăn chặn được trinh sát của địch. Trinh sát bằng quang học, hồng ngoại và laze là 3 kỹ thuật trinh sát chủ yếu của vệ tinh và máy bay trinh sát, các mục tiêu được che đậy, ở hang động, gầm cầu là những nơi che giấu có hiệu quả, đồng thời lợi dụng đêm tối, sương mù, màn mưa để che giấu âm thanh, ánh sáng, điện từ, nhiệt, kiểm soát chặt chẽ việc mở máy hoặc phát xạ sóng điện từ của rađa và thiết bị thông tin liên lạc

+ Nguỵ trang mục tiêu

Ngày nay, khi mà kỹ thuật trinh sát không ngừng phát triển thì việc sử dụng một cách khoa học các khí tài nguỵ trang như màn khói, lưới nguỵ trang, nghi binh, nghi trang… là một biện pháp chống trinh sát hữu hiệu và kinh tế. Nguỵ trang hiện đại là trên cơ sở nguỵ trang truyền thống sử dụng kỹ thuật thay đổi hình dạng… Thông qua việc làm thay đổi tần phổ quang học hoặc phản xạ điện từ và đặc tính bức xạ nhiệt của mục tiêu khiến chúng gần như hoà nhập vào môi trường xung quanh. Thông qua việc làm thay đổi hình thể của mục tiêu khiến mục tiêu không bị địch chú ý hoặc thông qua thả màn khói đặc biệt là sợi bạc…đều có thể ngăn chặn có hiệu quả trinh sát rađa và trinh sát hồng ngoại của đối phương

+ Tổ chức tốt việc nghi binh đánh lừa địch

  • Nghi binh là hành động tạo hiện tượng giả để đánh lừa đối phương. Nếu tổ chức tạo ra các hành động tác chiến giả một cách có kế hoạch, mục đích để phân tán, làm suy yếu khả năng trinh sát của địch, có thể làm cho địch nhận định sai, dẫn đến sai lầm từ đó ta có thể kiềm chế, điều động được địch
  • Theo phạm vi không gian, có thể chia nghi binh thành các loại sau: Nghi binh chính diện, nghi binh bên sườn, nghi binh trên bộ, nghi binh trên không, nghi binh trên biển, nghi binh lập thể… Theo mục đích, có thể chia thành nghi binh để thể hiện sức mạnh, nghi binh để thể hiện tỏ ra yếu kém, nghi binh để thể hiện thế, nghi binh tiến công, nghi binh rút lui.
  • Kỹ thuật quân sự hiện đại đã tạo ra nhiều thủ đoạn nghi binh mới, ngoài nghi binh về binh lực còn có nghi binh về hoả lực, nghi binh điện tử và các nghi binh kỹ thuật khác. Ví dụ, nghi binh vô tuyến điện bằng các phương pháp xây dựng mạng lưới vô tuyến điện giả, tổ chức các đối tượng liên lạc giả, thực hiện các cuộc thông tin liên lạc vô tuyyén điện giả, phát các cuộc điện báo (điện thoại) với nội dung giả… Ngoài ra, tổ chức tốt việc bày giả nhằm đúng vào đặc điểm và nhược điểm của hệ thống trinh sát địch, kết hợp với điều kiện tự nhiên như địa hình, địa vật, đặt các loại mục tiêu giả để làm thay đổi cục bộ nền môi trường, chiến trường, từ đó đánh lừa mê hoặc đối phương. Ví dụ, cần phải có mục tiêu giả, mục tiêu thật; khi cần di chuyểncác mục tiêu cần phải tiến hành di chuyển cùng lúc cả cái thực và cái giả, và qui mô đối với cái thực và cái giả cũng phải ngang nhau

– Dụ địch đánh vào những mục tiêu có giá trị thấp làm chúng tiêu hao lớn:

Lợi dụng đặc điểm của vũ khí công nghệ cao là giá thành cao, lượng sử dụng có hạn, chúng ta có thể sử dụng mục tiêu có giá trị thấp để làm phân tán lực lượng địch và gây tiêu hao lớn cho chúng. Ví dụ giá một chiếc máy bay tàng hình F- 117A lên tới vài chục triệu USD, giá một quả tên lửa hành trình cũng tới hàng triệu USD… Nếu ta sử dụngvũ khí trang bị cũ hoặc mục tiêu giả để dụ địch tiến công sẽ gây tiêu hao lớn cho chúng, làm giảm bớt lượng vũ khí công nghệ cao của địch, đồng thời làm giảm sút lòng tin khiến chúng không dám mạo hiểm tiếp tục sử dụng vũ khí công nghệ cao trên qui mô lớn. Trong cuộc chiến tranh Côxôvô, địa hình, địa vật phức tạp của Nam Tư kết hợp với thời tiết mùa xuân ẩm ướt, âm u, rừng cây rậm rạp đã khiến cho hệ thống vũ khí công nghệ cao của NATO bộc lộ rõ một số nhược điểm như khả năng nhận biết mục tiêu, khả năng định vị dẫn đến đánh nhầm, đánh không chính xác, đánh vào mục tiêu giả ngày càng tăng, khiến chúng bị tiêu hao ngày càng lớn

– Tổ chức, bố trí lực lượng phân tán, có khả năng tác chiến độc lập:

Tổ chức, bố trí lực lượng phân tán là thu nhỏ quy mô các lực lượng lớn, bố trí theo nhu cầu mỗi đơn vị có thể thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ phòng thủ, tiến công, cơ động chi viện… Bố trí phân tán lực lượng không theo qui tắc, xây dựng khu vực tác chiến du kích xen kẽ nhỏ lẻ, đa năng, nhưng sẵn sàng tập trung khi cần thiết. Bố trí như vậy sẽ giảm thiểu tổn thất khi địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Khả năng chiến đấu độc lập và tập trung cao sẽ giảm bớt sự chi viện của lực lượng dự bị. Bố trí phân tán sẽ tăng thêm khó khăn cho đối phương trong việc trinh sát phát hiện mục tiêu, phán đoán tình hình và xác định phạm vi đánh, làm giảm hiệu quả tác chiến của địch

– Kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị với xây dựng hầm ngầm để tăng khả năng phòng thủ:

Trong quá trình xây dựng đất nước những năm gần đây, hầu hết các địa phương trong cả nước đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, đời sống xã hội có nhiều thay đổi, các thành phố ngày càng mở rộng, cơ sở hạ tầng phát triển, các khu trung tâm kinh tế- công nghiệp phát triển, nhiều đô thị mới ra đời với tốc độ nhanh, mật độ dân cư ngày càng cao. Cùng với sự phát triển chung đó chúng ta cần quan tâm đúng mức đến phát triển cơ sở hạ tầng như điện, đường, kho, trạm… Đồng thời, chúng ta cũng không nên xây dựng các thành phố quá đông dân cư, các khu công nghiệp tập trung mà xây dựng nhiều thành phố vệ tinh và tập trung phát triển mạng giao thông. Xây dựng đường cao tốc phải kết hợp tạo ra những đoạn đường máy bay có thể cất hạ cánh. Xây dựng cầu phải kết hợp cả việc sử dụng các bến phà, bến vượt, trong tương lai, chúng ta sẽ xây dựng đường xe điện ngầm ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh…. Xây dựng các nhà cao tầng phải tính đến số lượng tầng cao để giảm bớt tổn thất trong chiến tranh; các công trình lốn của quốc gia như nhà Quốc hội, nhà trung tâm Hội nghị quốc gia, văn phòng của các Bộ, nghành… phải có tầng hầm, thời bình làm kho, nhà xe, thời chiến làm ẩn nấp. Xây dựng các nhà máy thuỷ điện phải tính đến phòng chống máy bay phá gây lũ lụt.                                                 2.2.Biện pháp chủ động

-Gây nhiễu các trang bị trinh sát của định, làm giảm hiệu quả trinh sát

Gây nhiễu là một biện pháp cơ bản trong đối kháng trinh sát, nhằm làm giảm hoặc suy yếu hệu quả các thiết bị trinh sát của địch, khiến chúng không thể phát huy tác dụng. Môt số biên pháp gây nhiễu có thể vận dụng:

+Tích cực phá hoại hệ thống trinh sát của địch.Có thể sử dụng đòn tiến công của tên lửa đất đối không, đòn phản kích của binh lực mặt đất hoặc tiến hành gây nhiễu điện tử, hạn chế và phá hoại trinh sát kỹ thuật của địch. Tổ chức băn rơi máy bay trinh sát điện tử của địch sẽ hạn chế rất nhiều việc sử dụng vũ khí điều khiển chính xác của chúng.

+Sử dụng tổng hợp nhiều thủ đoạn thực hiện gây nhiễu chế áp lại địch, nhưng phải chuẩn bị chu đáo, nhất là thời cơ và đối tượng gây nhiễu, bởi vì khi gây nhiễu chính là lúc ta lại bị bộc lộ, địch sẽ trinh sát định vị lại ta, ta cần bố trí các đài gây nhiễu ở nơi hiểm yếu và di chuyển liên tục. Lập các mạng, các trung tâm thông tin giả hoạt động đồng thời với thông tin thật để thu hút hoạt động trinh sát và chế áp điện tử của địch, che đậy tín hiệu công tác thực hiện của ta.

+Hạn chế năng lượng bức xạ từ về phía ăng ten thu trinh sát cuả địch bằng cách sử dụng công suất phát hợp lý, chọn vị trí đặt ăng ten sao cho có dịa hình che chắn về phía địch trinh sát, phân bố mật độ liên lạc hợp lí, không tạo ra dấu hiệu bất thường, thay đổi thường xuyên quy ước liên lạc, mã hóa các nội dung điện, chọn tân số gần tần số làm việc của địch, tăng cônng suất máy phát, sử dụng ăng ten có hẹ số khuyếch đại cao, rút ngắn cự li thông tin…

+Dùng hoả lực hoặc xung lực đánh vào những chỗ hiểm yếu, nhằm phá huỷ các đài phát, tiêu diệt nguồn gây nhiễu của địch.

-Nắm chắc thời cơ, chủ động đánh địch từ xa, phá tế tiến công của địch:

+Cần phải trinh sát nắm địch chặt chẽ, chính xác và có quyết tâm sử dụng lực lượng hợp lí, nhất là phát huy khả năng của lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng đặc công, pháo binh chuyên trách tiến công địch. Sử dụng tổng hợp các loại vũ khí có trong biên chế của lực lượng phòng không 3 thứ quân.Kết hợp sử dụng vũ khí tho sơ, vũ khí tương đối hiện đại để đánh địch, rèn luỵen ý chí chiến đấu quyết đánh và biết thắng vũ khí công nghệ cao của địch. Huấn luyện nân g cao trình độ cho các lượng phòng không 3 thứ quân. Làm cho mỗi người lính,mỗi người dân biết sử dụng thành thạo các  loại vũ khí có trong tay để bắn máy bay và tên lửa của địch trong tầm bắn hiệu quả khi nó bay qua khu vực đóng quân của đơn vị mình, địa phương mình.

+Thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, dù kẻ địch tiến công bằng hoả lực, bằng vũ khí công nghệ cao từ hướng nào, khu vực nào, sử dụng vũ khí công nghệ cao đến mức nào chúng ta cunngx đánh trả có hiệu quả làm vô hiệu hoá vũ khí công nghệ cao của địch, đập tan ý trí xâm lược của kẻ thù.

-Lợi dụng đặc điểm đồng bộ của vũ khí cônng nghệ cao, đánh vào mắt xích then chốt

+Tập trung lực lượng đánh vào những hệ thống có tác dụng bảo đảm và điều hành, gây ra sự hỗn loạn và làm mất khả năng sử dụng vũ khí công nghệ cao hoặc sự phối hợp nhịp nhàng giữa hệ thống vũ khí công nghệ cao với các hệ thống vũ khí thông thường khác.

+Mặt khác, vũ khí công nghệ cao có thể đồng thời sử dụng cả trên bộ, trên biển và trên không, do vậy phải tổ chức đánh địch từ xa. Sử dụng các thủ đoạn tập kích, đặc biệt có thể sử dụng đặc công, pháo binh chuyên trách, dân quân tự vệ tập kích, phá hoại vùng địch hậu, tập kích tung thâm… phá huỷ các hệ thống phóng, hệ thống bảo đảm hoặc các căn cứ trọng yếu của chúng , khiến chúng bị tê liệt khi tác chiến. Có thể lợi dụng thời tiết khắc nghiệt như: mưa, mù, bão gió… Để tập kích vào hệ thống vũ khí công nghệ cao.

-Cơ động phòng tránh nhanh, đánh trả kịp thời chính xác

+ Khi cơ động phòng tránh phải thực hiện tốt các yêu cầu bí mật, cơ động nhanh, đến đúng địa điểm, thời gian sẵn sàng chiến đấu cao.

+ Để thực hiện được mục đích đó, công tác tổ chức chuẩn bị phải chu đáo, có kế hoạch cơ động, di chuyển chặt chẽ. Khin cơ động phải tận dụng địa hình, rừng cây, khe suối… Hạn chế khả năng trinh sát, phát hiện bằng các phương tiện trinh sát hiện đại của địch. Xác định nhiều đường cơ động, có đừơng chính, đường dự bị, đường nghi binh và tổ chức ngụy trang.

+ Phòng tránh, đánh trả địch tiến công bằng vũ khí công nghệ cao là vận dụng tổng hợp các giải pháp, biện pháp, các hoạt động một cách có tổ chức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong chuẩn bị và thực hành phòng tránh, đánh trả bảo đảm an toàn cho nhân dân và các thành phần lực lượng, giữ vững sản xuất, đời sống, sinh hoạt, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Phòng tránh, đánh trả tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch là hai mặt của một vấn đề, có quan hệ, tác động lẫn nhau một cách biện chứng, đan xen nhau. Phòng tránh tốt là điều kiện để đánh trả có hiệu quả. Đánh trả có hiệu quả  tạo điều kiện để phòng tránh an toàn và chúng ta cần hiểu rằng trong phòng tránh có đánh trả, trong đánh trả có phòng tránh. Như vậy, phòng tránh tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch là một biện pháp có ý nghĩa chiến lược để bảo toàn lực lượng, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản, là một yếu tố quan trọng đẻ giành thắng lợi. Thực tế những năm chống chiến tranh phá hoại miền Bắc cuả Đế quốc Mỹ trước đây, công tác phòng không nhân dân đã có vị trí vai trò to lớn trong việc bảo vệ nhân dân bảo vệ các quan trọng của miền Bắc.

Những kinh nghiệm tổ chức phòng tránh trong chống chiến tranh phá hoại bằng Không quân và Hải quân của địch trước đây và các cuộc chiến tranh gần đây của Mỹ và đồng minh vào I-rắc, Nam Tư… là những kinh nghiệm rất bổ ích, chúng ta có cơ sở để tin tưởng rằng chúng ta sẽ tổ chức tốt công tác phòng tránh tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch trong tình hình mới.

Trong phòng tránh phải triệt để tận dụng ưu thế địa hình tự nhiên để cải tạo và xây dựng công trình phòng tránh theo một ý định chiến lược chung trên phạm vi toàn quốc, trên từng hướng chiến dịch, chiến lược, trên từng địa bàn cụ thể, từng khu vực phòng thủ địa phương. Bố trí lực lượng phương tiện phân tán, nhưng hoả lực phải tập trung, công trình phải luôn kết hợp chặt chẽ giữa  nguỵ trang che giấu với hoạt động nghi binh, xây dựng phải dựa vào khu vực phòng thủ tỉnh(Thành phố) và tăng cường cơ động trong chiến đấu.

Đôí với đánh trả tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch, nhằm tiêu diệt, phá thế tiến công của địch, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ các mục tiêu quan trọng của đất nước, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất…Đánh trả có hiệu quả là vấn đề cốt lõi nhất cuả phòng tránh, đánh trả, là biện pháp tích cực nhất, chủ động nhất để bảo vệ chủ quyền đất nước, bảo vệ mục tiêu, bảo toàn lực lượng chiến đấu.

Với điều kiện và khả năng của ta, việc tổ chức đánh trả phải có trọng điểm, đúng đối tượng, đúng thời cơ. Đánh trả địch bằng mọi lực lượng, mọi lọai vũ khí, trang bị, thực hiện đánh rộng khắp, từ xa đến gần, ở các độ cao, các hướng khác nhau. Ta đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp, ta đánh địch bằng thế, thời, lực, mưu…

Về phương pháp chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với cơ động, ngụy trang, nghi binh, phòng tránh bảo tồn lực lượng.Về lực lượng, chúng ta có lực lượng phòng không 3 thứ quân và không quân, lực lượng pháo binh, tên lửa, lực lượng đặc công…và hoả lực súng bộ binh tham gia.

Với những thành phần như vậy, có thể đánh các mục tiêu trên không, các mục tiêu mặt đất, mặt nước nơi xuất phát các đòn tiến công hoả lực của địch, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Trong đó, tổ chức xây dựng thế trận phòng tránh đánh trả tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch đáp ứng yêu cầu hiểm, chắc, có chiều sâu, cơ động linh hoạt, rộng khắp, kết hợp với thế trận khu vực phòng thủ địa phương. Phải xác định các khu vực, mục tiêu bảo vệ trọng điểm, đối tượng đánh trả, hướng đánh trả chủ yếu cho các lực lượng tham gia đánh trả

Trong thực hành đánh trả địch, phải vận dụng một cách linh hoạt các hình thức tác chiến, chiến thuật, phương pháp hoạt động chiến đấu khác nhau cho từng lực lượng, như lực lượng phòng không ba thứ quân có thể vừa chốt bảo vệ mục tiêu, vừa cơ động phục kích đón lõng, kết hợp vừa phòng tránh vừa đánh trả. Đối với lực lượng không quân, pháo binh, tên lửa, hải quân có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp tác chiến của quân, binh chủng có hiệu quả nhất, phù hợp với điều kiện tình hình địch, ta như đánh chặn, đánh đòn tập kích, đánh hiệp đồng….

Ngoài những vấn đề trên, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống phòng thủ dân sự, đây là nhiệm vụ chiến lược rất quan trọng của nền quốc phòng toàn dân, là hệ thống các biện pháp phòng thủ quốc gia. Từng địa phương và cả nước, được tiến hành trong thời bình và thời chiến, nhằm bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền kinh tế, duy trì sản xuất và đời sống nhân dân trong đó bảo vệ nhân dân là nội dung quan trọng nhất. Nếu việc tổ chức phòng thủ dân sự không tốt, không có giải pháp để phòng chống vũ khí công nghệ cao, không những chỉ tổn thất về người mà còn dẫn đến hoang mang, dao động, giảm sút ý chí quyết tâm kháng chiến của mỗi người dân, từng địa phương và cả nước.

Ngày nay, nếu cuộc chiến tranh xảy ra sẽ là cuộc chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, diễn ra trên không gian nhiều chiều, tiền tuyến và hậu phương không phân định rõ ràng như trước đây. Do vậy, ở các thành phố, thị xã, thị trấn, nơi tập trung đông dân cư và các cơ sở kinh tế lớn chủ yêú là sơ tán, còn các trọng điểm khác có thể phân tán, sơ tán gần. Các cơ sở sản xuất lớn của Trung ương có thể phải sơ tán xa hơn, chủ yếu dựa vào các hang động ở rừng núi để sản xuất phục vụ chiến tranh.

Hệ thống công trình phòng thủ dân sự gồm hệ thống hầm hố ẩn nấp cho cá nhân, cho các hộ gia đình, các công trình bảo đảm sản xuất, bảo đảm sinh hoạt, bảo đảm lương thực, thực phẩm của tập thể, hộ gia đình triển khai ở các cơ quan, nhà ga, bến cảng, kho nhiên liệu, xăng dầu được tiến hành ngay từ thời bình thông qua kế hoạch kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế ở từng địa phương và trong phạm vi cả nước

KẾT LUẬN

Phương thức phòng chống địch tiến công bằng hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao là một vấn đề lớn của cả đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

Để phòng chống địch tiến công hoả lực bằng vũ khí công nghệ cao trong chiến tranh tương lai có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự tham gia của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, của cả hệ thống chính trị trên tất cả các lĩnh vực từ nhận thức đến hành động. Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, sẵn sàng phòng chống địch tiến công hoả lực có hiệu quả trong mọi tình huống. Mọi công tác chuẩn bị của các cấp, các ngành và của người dân phải được chuẩn bị ngay từ thời bình, chống chủ quan, coi nhẹ, luôn luôn theo dõi chặt chẽ, đánh giá đúng, chính xác âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, khả năng sử dụng vũ khí công nghệ cao và những phát triển mới về vũ khí trang bị, phương pháp tác chiến trong chiến tranh tương lai của địch. Công tác chuẩn bị phải chu đáo từ thế trận phòng tránh, đánh trả, đến công tác huấn luyện, diễn tập cách phòng chống tiến công hoả lực của địch bằng vũ khí công nghệ cao.

Với kinh nghiệm và truyền thống, với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, trong điều kiện mới chúng ta tin tưởng ta có đầy đủ khả năng để đối phó với tiến công bằng vũ khí công nghệ cao của địch

 

 

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Bài 3: XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN VÀ ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG

Bài 3: XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ, LỰC LƯỢNG

DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN

VÀ ĐỘNG VIÊN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG

 

I – MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1. mục đích:

– Nhằm trang bị cho sinh viên những nội dung cơ bản về xây dựng lực lượng dân quân tự vệ(DQTV), dự bị động viên (DBĐV) và động viên công nghiệp quốc phòng (ĐVCNQP).

2. Yêu cầu:

– làm chuyển biến nhận thức, nâng cao trách nhiệm công dân trong xây dựng DQTV, lực lượng DBĐV và ĐVCNQP, nâng cao trách nhiệm đạt kết qủa tốt trong học tập.

II – NỘI DUNG

2. 1 Xây dựng lực lượng dân quân quân tự vệ

2. 1. 1 Khái niệm, vị trí vai trò nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ

  • Khái niệm

– DQTV là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, sự quản lý diều hành của chính phủ và của uỷ ban nhân dân các cấp, sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương.

– Lực lượng này tổ chức ở Xã, Phường, Thị trấn được gọi là dân quân được tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chứ kinh tế, tổ chức chính trị, tổ cức chính trị xã hội (gọi chung là cơ quan, tổ chức) gọi là tự vệ.

  • Vai trò của DQTV

– DQTV là một lực lượng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là lực lượng nòng cốt trong  xây dựng nền QPTD và phong trào toàn dân đánh giặc trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc đối phó với chiến lược “ Diễn biến hoà bình ”, “Bạo loạn lật đổ” và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch thì vai trò của DQTV càng được coi trọng.

– Lực lượng DQTV là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, trực tiếp ở từng địa phương bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước ở cơ sở.

– Đánh giá vai trò DQTV, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “DQTV và Du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận kể thù nào dù hung bạo đến đâu hễ đụng vào lực lượng đó thì địch nào cũng phải tan rã ”.

– Trong thời bình: DQTV là lực lượng đông đảo tham gia xây dựng kinh tế, phát triển ở địa phương và cả nước là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân xây dựng nền QPTD, thế trận QPTD, phối hợp với các lực lượng khác đáu tranh làm thất bại chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ, phòng chống các tệ nạn xã hội, thiên tai, địch hoạ bảo đảm an toàn cho nhân dân.

– Trong thời chiến: DQTV làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt lực lượng, phương tiện của dịch, căng kéo, kìm chân buộc địch phải sa lầy triển khai sớm, vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, các thủ đoạn chiến đấu, tạo thế, tạo lực cho bộ đội chủ lực,bộ đội địa phương chiến đấu, tham gia phục vụ chiến đấu giữ vững thế trận chiến tranh nhân dân.

  • Nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ

Điều 7 của pháp lệnh DQTV năm 2004, xác định có 5 nhiệm vụ:

– Sẵn sang chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, làm nong cốt cùng toàn Dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở.

– Phối hợp với Quân đội, Công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chinnhs trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân, tổ chức người nước ngoài, các mục tiêu, các công trình quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

– Xung kích vào bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch hoạ và các sự cố nghiêm trọng khác.

– Vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối chủ chương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực thực hiện các chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.

– Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

 Những nhiệm vụ trên được quy định trong pháp lệnh DQTV. Đó là những nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên trong mọi giai đoạn cách mạng đối với mọi tổ chức DQTV. Đồng thời là phương hướng, mục tiêu cơ bản chỉ đạo xây dựng và hoạt động của LLDQTV

2. 1. 2 Nội dung xây dựng dân quân tự vệ

– Phương trâm xây dựng : Xây dựng DQTV theo hướng “vững mạnh, rộng khắp, coi trọng chất lượng là chính”.

+ Vững mạnh: Được thể hiện là chất lượng phải toàn diện cả về chính trị tư tưởng, tổ chức, trình độ chính trị, quân sự và chyên môn nghiệp vụ, biên chế trang bị hợp lí, thống nhất, có kỉ luật nghiêm, cơ động nhanh sẵn sàng chiến đấu tốt. Mỗi tổ chức DQTV phải luôn vững vàng.

+ Rộng khắp: LLDQTV được xây dựng ở hầu hết các làng, bản, xóm, ấp, xã, phường, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, ở đâu có tổ chức Đảng, chính quyền và có dân, đều phải tổ chức DQTV, kể cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

+ Coi trọng chất lượng là chính: Chỉ lựa chọn vào đội ngũ những công dân có lí lịch rõ ràng, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, các quy định của địa phương, có sức khoẻ phù hợp.

Tổ chức, biên chế, trang bị của LLDQTV:

Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của LLDQTV phải phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ QP – AN thời bình, thời chiến, dặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và điều kiện cụ thể của từng bộ, nghành, địa phương và cơ sở.

+ Về tổ chức:

 DQTV được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượng nòng cốt ( lực lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu)

+ Biên chế : Biên chế DQTV được thống nhất trong toàn quốc, số lượng cán bộ, chiến sĩ trong toàn đơn vị do Bộ quốc phòng quy định

+ Về vũ khí, trang bị của DQTV : Vũ khí, trang bị cho DQTV từ các nguồn do Bộ quốc phòng cấp, các địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch. Song từ nguồn nào, vũ khí trang bị đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho DQTV quản lí. Do vậy, phải được đăng ký, quản lí, bảo quản chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích và đúng quy định của pháp luật.

+ Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với DQTV :

 Nội dung giáo dục cần tập trung không ngừng tăng cường bản chất cách mạng và ý thức giai cấp cho từng cán bộ, chiến sĩ DQTV, trên cơ sở đó thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất âm mưu của kẻ thù. Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa, mục tiêu lí tưởng của Đảng,…

+ Huấn luyện quân sự:

  Huấn luyện nội dung hằng năm do Bộ quốc phòng quy định, thời gian huấn luyện theo pháp lệnh quy định.

2. 1. 3 Một số biện pháp xây dựng dân quân tự vệ trong giai đoạn hiện nay

Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về công tác dân quân tự vệ.

– Phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn để xây dựng LLDQTV

– Xây dựng LLDQTV gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.

– Thực hiên nghiêm túc, đầy đủ các chế độ chính sách của Đảng và nhà nước đối với LLDQTV.

* Tóm lại: DQTV là lực lượng chiến đấu tại chỗ ở địa phương, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tính  mạng và tài sản của nhân dân ở cơ sở, là thành phần không thể thiếu được của LLVTNDVN. Việc xây dựng LLDQTV là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

2. 2 Xây dựng lực lượng dự bị động viên

2. 2. 1 Khái niệm, vị trí vai trò, những quan điểm nguyên tắc

  • Khái niệm: Lực lượng DBĐV gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội nhằm duy trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi trong chiên tranh bảo vệ Tổ quốc.
  • Vị trí, vai trò công tác xây dựng LLDBĐV: Công tác xây  dựng và huy động LLDBĐV giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là một trong những nhiệm vụ cơ bản nhất góp phần xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân, bảo đảm nguồn nhân lực bổ sung, mở rộng lực lượng quân đội khi đất nước chuyển sang thời chiến.

2. 2. 2 Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng DBĐV

– Xây dựng lực lượng DBĐV bảo đảm số lượng đủ, chất lượng cao, xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm

– Xây dựng LLDBĐV phải phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị

– Xây dựng LLDBĐV đăt dưới sự lãnh đạo của Đảng các cấp ở địa phương, bộ, nghành

2. 2. 3 Nội dung xây dựng LLDBĐV

– Tạo nguồn, đăng kí, quản lí LLDBĐV

+ Tạo nguồn: Là cơ sở quan trọng nhất để lập kế hoạch xây dựng và huy động LLDBĐV.

+ Đăng ký quản lí nguồn : Việc đăng kí, quản lí LLDBĐV phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác, đăng kí quản lí cả con người và phương tiện kĩ thuật.

+ Tổ chức biên chế đơn vị DBĐV: Tổ chức, biên chế lực lượng phương tiện thành từng đơn vị DBĐV theo kế hoạch để quản lí, huấn luyện nhằm nâng cao khả năng động viên, khả năng sẵn sàng chiến đấu.

– Giáo dục chính trị, huấn luyện diễn tập, kiểm tra đơn vị DBĐV

+ Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị là nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng LLDBĐV, làm cho cán bộ, chiến sĩ nâng cao nhận thức về chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu lí tưởng.

+ Công tác huấn luyện: Phương trâm huấn luyện: “Chất lượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”

+ Bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, tài chính cho xây dựng LLDBĐV: Vật chất kĩ thuật, kinh phí là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm xây dựng LLDBĐV gồm vũ khí, trang bị, hậu cần kĩ thuật và tài chính. Việc bảo đảm Chính phủ giao cho các bộ nghành, địa phương thực hiện.

2. 3. 4 Một số biện pháp xây dựng LLDBĐV

– Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về vị trí, nhiệm vụ, những quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với LLDBĐV

– Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các cơ quan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.

– Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ làm công tác xây dựng LLDBĐV

– Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với LLDBĐV.

* Tóm lại: Xây dựng LLDBĐV hết sức quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là nhiệm  vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị.

2. 3 Động viên công nghiệp quốc phòng

2. 3. 1 Khái niệm, nguyên tắc, yêu cầu động viên công nghiệp quốc phòng

  • Khái niệm: ĐVCNQP là huy động một phần hoặc toàn bộ năng lực sản xuất, sửa chữa trang bi cho quân đội của doanh nghiệp công nghiệp ngoài lực lượng quốc phòng, nhằm huy động mọi nguồn lực của đất nước hoặc một số địa phương… phục vụ cho quốc phòng, nhằm giành thế chủ động, bảo đảm phát huy tiềm lực mọi mặt của quốc gia, duy trì ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân, giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Khái niệm trên thể hiện khái quát một số nội dung sau:

+ ĐVCNQP được chuẩn bị từ thời bình là việc làm thường xuyên từ trung ương đến địa phương.

+ Động viên công nghiệp quốc phòng không áp dụng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

+ Có thể động viên hoặc động viên cục bộ: Chiến tranh tương lai nếu xảy ra là một cuộc chiến tranh hiện đại, đối phương chủ yếu sử dụng vũ khí công nghệ cao, bất ngờ tiến công từ xa vào các mục tiêu trong yếu trên phạm vi cả nước, bằng pháo binh không quân, tên lửa hành trình… Vì vậy, động viên công nghiệp quốc phòng chúng ta phải chuẩn bị từ thời bình, bảo đảm cho đất nước luôn ở trạng thái sẵn sàng đáp ứng được với mọi tình huống.

– Nguyên tắc động viên công nghiệp quốc phòng

+ Nguyên tắc động viên công nghiệp quốc phòng tiến hành trên cơ sở năng lực sản xuất, sửa chữa đã có của các doanh nghiệp, Nhà nước chỉ đầu tư thêm trang thiết bị chuyên dùng để hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang thiết bị cho quân đội.

+ Việc lựa chọn, giao nhiệm vụ động viên công nghiệp quốc phòng cho các doanh nghiệp công nghiệp phải đảm bảo tính đồng bộ theo nhu cầu sản xuất, sửa chữa trang thiết bị của doanh nghiệp.

+ Nhà nước bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp công nghiệp, người lao động trong chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng.

– Yêu cầu động viên công nghiệp quốc phòng

+ Chuẩn bị thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm bí mật, an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, đúng kế hoạch, nhanh chóng tăng cường sức mạnh về mọi mặt, sẵn sàng đối phó với các tình huống chiến tranh.

+ Chuẩn bị thực hành động viên công nghiệp quốc phòng phải bảo đảm cho yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của các địa phương trong thời chiến. Đây là một yêu cầu rất quan trọng trong chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp quốc phòng. Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của địa phương trong thế trận quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Trên đây là yêu cầu cơ bản có tính quyết định đến kết quả công tác động viên công nghiệp quốc phòng. Vì vậy, kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng của các cấp, các nghành phải theo đúng quy định của Nhà nước thuộc tài liệu mật, phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật.

2.3.2 Một số nội dung động viên công nghiệp quốc phòng

– Chuẩn bị động viên ccông nghiệp quốc phòng

+ Khảo sát, lựa chọn doanh nghiệp công nghiệp có khả năng sản xuất, sửa chữa trang bị

+ Xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng

+ Giao chỉ tiêu động viên công nghiệp quốc phòng

+ Hoàn chỉnh dây chuyền sản xuất, sửa chữa trang thiết bị

+ Quản lí, duy trì dây chuyền sản xuất

+ Bồi dưỡng chuyên môn cho người lao động và diễn tập động viên công nghiệp quốc phòng.

+ Dự trữ vật chất

2.3.3 Thực hành động viên công nghiệp quốc phòng

– Quyết định và thông báo quyết định động viên công nghiệp quốc phòng (do Chính phủ quy định)

+ Tổ chức di chuyển địa điểm đối với các doanh nghiệp phải di chuyển

+ Tổ chức bảo đảm vật tư tài chính

+ Giao, nhận sản phẩm động viên công nghiệp quốc phòng

2.3.4 Một số biện pháp chính thực hiện động viên công nghiệp quốc phòng

– Nhà nước, Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, địa phương, Tổng công ty, thực hiện nghiêm pháp lệnh động viên công nghiệp quốc phòng. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng công ty phối hợp hiệp đồng chặt chẽ thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ động viên công nghiệp quốc phòng.

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các địa phương, các Tổng công ty cần quán triệt sâu sắc cho cán bộ, công nhân viên về pháp lệnh, Nghị định, các văn bản hướng dẫn về động viên công nghiệp quốc phòng của Nhà nước, Chính phủ.

– Các doanh nghiệp công nghiệp được lựa chọn giao chỉ tiêu động viên công nghiệp quốc phòng cần chủ động lập kế hoạch động viên công nghiệp quốc phòng và sẵn sành thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, chỉ tiêu trên giao.

* Tóm lại: Động viên công nghiệp quốc phòng là một vấn đề lớn có tính chiến lược của quốc gia để đất nước chủ động trong mọi tình huống, trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, hơn lúc nào hết ngay từ thời bình, công tác động viên công nghiệp quốc phòng phải được sự quan tâm một cách đầy đủ của toàn xã hội.

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Biên giới quốc gia

2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Biên giới quốc gia

2.3.1 Quan điểm

            – Xây dựng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là một nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

            Lãnh thổ và biên giới quốc gia Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng, không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Lãnh thổ và biên giới quốc gia là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự ổn định, bền chắc của đất nước Việt Nam. CHủ quyền lãnh thổ Việt Nam là khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt Nam, bao gồm cả quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong phạm vi lãnh thổ, gồm cả vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không thể thành công nếu chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia không được xây dựng và bảo vệ tốt, bị xâm phạm.

            – Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam

            Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là kết quả đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử. Người Việt Nam luôn phất cao hào khí anh hùng, lòng tự hào, tự tôn dân tộc trong dựng nước và giữ nước, xây dựng và gìn giữ biên cương, lãnh thổ quốc gia, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

            Chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam. Nhà nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam quyết tâm giữ gìn và bảo vệ quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó

            – Xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định; giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau

            Đây là quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Quan điểm này phù hợp với luật pháp và lợi ích của Việt Nam, phù hợp với công ước và luật pháp quốc tế, cũng như các lợi ích của các quốc gia có liên quan

            Trong giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện quan điểm giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích chính đáng của nhau

            Về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, quan điểm nhất quán của Việt Nam là: Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lí về vấn đề này. Tuy nhiên, vì lợi ích an ninh chung của các bên hữu quan, Việt Nam sẵn sàng đàm phán hoà bình để giải quyết, trước mắt là đạt tới sự thoả thuận vê “Bộ qui tắc ứng xử” trong khi tiếp tục tìm kiếm giải pháp lâu dài cho vấn đề Biển Đông

            – Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia là sự nghiệp của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lí thống nhất của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt

            Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà nước thống nhất quản lí việc xây dựng, quản lí, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước

            Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Bộ đội biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách, phối hợp với lực lượng công an nhân dân, các ngành hữu quan và chính quyền địa phương trong hoạt động quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới theo qui định của pháp luật

2.3.2 Trách nhiệm công dân trong xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam

            Trách nhiệm của công dân Việt Nam đối với xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam được Nhà nước ban hành cụ thể trong Hiến pháp (điều 44) và luật Biên giới (điều 10)

            Để thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm này, công dân Việt Nam phải:

            + Mọi công dân Việt Nam không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, trình độ văn hoá, nơi cư trú đều có nghĩa vụ và trách nhiệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

            + Chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, trước hết thực hiện nghiêm, đầy đủ luật Quốc phòng, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

            + Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quân sự, thực hiện nghiêm chỉnh các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

            Trách nhiệm của họ sinh, sinh viên trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

            + Không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; từ đó củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

            + Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng cao quí và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia

            + Thực hiện tốt về chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự tại trường

            + Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế – quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

BÀI 1:  PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC THẾ LỰC   THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1.1 Mục đích

Nắm vững âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và cách mạng Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó để mỗi người nâng cao cảnh giác cách mạng, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và lực lượng vũ trang làm thất bại mọi chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chúng.

1.2 Yêu cầu

Ra sức học tập, trau dồi phẩm chất năng lực của người đoàn viên thanh niên, kế tiếp các thế hệ cha anh góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

II. NỘI DUNG

2.1 Chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá chủ nghĩa xã hội

2.1.1 Chiến lược “Diễn biến hoà bình”

Khái niệm: “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành

Nội dung chính của chiến lược “DBHB” là:

  • Kẻ thù sử dụng mọi thủ đoạn kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đối ngoại, an ninh… để phá hoại, làm suy yếu từ bên trong các nước xã hội chủ nghĩa.
  • Kích động các mâu thuẫn trong xã hội, tạo ra các lực lượng chính trị đối lập núp dưới chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, tụ do tôn giáo, sắc tộc, khuyến khích tư nhân hoá về kinh tế và đa nguyên chính trị, làm mơ hồ giai cấp và đấu tranh giai cấp trong nhân dân lao động. Khích lệ lối sống tư sản và làm phai nhạt mục tiêu, lí tưởng xã hội chủ nghĩa ở một số bộ phận sinh viên.
  • Triệt để khai thác và lợi dụng những khó khăn, sai sót của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực đời sống xã hội, tạo nên sức ép, từng bước chuyển hoá và thay đổi đường lối chính trị, chế độ xã hội theo quĩ đạo chủ nghĩa tư bản.

– Sự hình thành và phát triển của chiến lược “Diễn biến hoà bình”

Chiến lược “DBHB” đã ra đời và phát triển cùng với sự điều chỉnh phương thức, thủ đoạn chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa. Chiến lược “DBHB” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau

+ Giai đoạn 1945- 1980: đây là giai đoạn manh nha hình thành chiến lược “DBHB” được bắt nguồn từ Mĩ

  • Tháng 3 năm 1947, chính quyền Truman trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Kennan đã bổ xung, hình thành và công bố thực hiện chiến lược “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản.
  • Tháng 4 năm 1948, quốc hội Mĩ chính thức phê chuẩn kế hoạch Macsan, tăng viện trợ để khích lệ lực lượng dân chủ, cài cắm gián điệp vào các Đảng cộng sản để phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản Tây âu, hướng họ phụ thuộc vào Mĩ
  • Tháng 12 năm 1957, tổng thống Ai – Sen – Hao đã tuyên bố Mĩ giành thắng lợi bằng hoà bình và mục đích của chiến lược để làm suy yếu và lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa
  • Từ năm 1960 đến 1980, nhiều đời tổng thống kế tiếp của Mĩ như: Kennơđi, Giôxơn, Nickxơn, Pho đã coi trọng và thực hiện chiến lược “DBHB” để chống lại làn sóng cộng sản, lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt sau thất bại ở Việt Nam, Mĩ đã thay đổi chiến lược chuyển từ tiến công bằng sức mạnh quân sự là chính sang tiến công bằng “DBHB” là chủ yếu.

+ Giai đoạn từ 1980 đến nay:

  • Chủ nghĩa đế quốc từng bước hoàn thiện chiến lược “DBHB” và trở thành chiến lược chủ yếu để tiến công các nước xã hội chủ nghĩa.
  • Do phát hiện thấy những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong cải tổ, cải cách. Từ năm 1980 đến 1990, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng chiến lược “DBHB” để tiến công làm suy yếu tiến tới lật đổ các nước xã hội chủ nghĩa
  • Sau sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông âu và Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục ra sức sử dụng chiến lược “DBHB” để thực hiện âm mưu xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Chúng cho rằng phải làm xói mòn tư tưởng, đạo đức và niềm tin Cộng sản của thế hệ trẻ để “tự diễn biến”, tự suy yếu dẫn đến sụp đổ, tan rã chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước còn lại

2.1.2 Bạo loạn lật đổ

-Khái niệm:  Là hành động chống phá bằng bạo lực do lực lượng phản động hay lực lượng li khai, đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền ở địa phương hay trung ương

– Về hình thức gồm:

+ Bạo loạn chính trị

+ Bạo loạn vũ trang

+ Bạo loạn chính trị kết hợp vũ trang

– Trên thực tiễn, bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động gắn liền với chiến lược “DBHB” để xoá bỏ chủ nghĩa xã hội khi tiến hành bạo loạn lật đổ, các thế lực thù địch thường kích động những phần tử qua khích làm mất trật tự an toàn xã hội ở một số khu vực và trong thời gian nhất định (thường diễn ra trong không gian hẹp và thời gian ngắn) tiến tới lật đổ chính quyền ở địa phương hoặc Nhà nước xã hội chủ nghĩa

– Qui mô có thể diễn ra ở nhiều mức độ từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn. Phạm vi địa bàn xảy ra có thể ở nhiều nơi, nhiều vùng của đất nước, trọng điểm là những vùng trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của trung ương và địa phương, nơi nhạy cảm về chính trị hoặc ở các khu vực, địa bàn mà cơ sở chính trị của địa phương yếu kém

2.2 Chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam

2.2.1 Âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “DBHB” đối với Việt Nam

– Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “DBHB” chống chủ nghĩa xã hội

  • Từ đầu năm 1950 đến 1975: chủ nghĩa đế quốc dùng quân sự để xâm lược và muốn biến Việt Nam thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng nhưng cuối cùng đã bị thất bại hoàn toàn. Âm mưu không thành, chúng chuyển sang chiến lược mới như: “bao vây cấm vận kinh tế”, “cô lập về ngoại giao”, kết hợp với “DBHB”, bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  • Từ năm 1975- 1994: lợi dụng nước ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội do hậu quả của chiến tranh để lại và sự biến động chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông âu, và các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh “DBHB” đối với Việt Nam
  • Từ năm 1995 đến nay: trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, các thế lực thù địch lại tiếp tục điều chỉnh thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Chúng tuyên bố xoá bỏ “cấm vận kinh tế”, bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt động xâm nhập như “dính líu”, “ngầm”, “sâu, hiểm” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

– Mục tiêu nhất quán của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sử dụng chiến lược “DBHB” đối với cách mạng Việt Nam là thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta theo con đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chúng…Để đạt được mục tiêu đó, các thế lực thù địch không từ bỏ bất kỳ thủ đoạn chống phá nào như sử dụng bạo lực phi vũ trang, bạo lực vũ trang, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội … Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta hiện nay là toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, tinh vi, thâm độc và nhiều thủ đoạn tinh vi khó nhận biết cụ thể:

  • Thủ đoạn về kinh tế: Chúng muốn chuyển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dần theo quĩ đạo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước. Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa
  • Thủ đoạn về chính trị: Các thế lực thù địch kích động đòi thực hiện chế độ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do hoá” mọi mặt đời sống xã hội, từng bước phá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chúng tập hợp, nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong nước và ngoài nước, lợi dụng các vấn đề “dân chủ’, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng. Tận dụng những sơ hở trong đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước ta, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  • Thủ đoạn về tư tưởng văn hoá: Chúng thực hiện nhiều hoạt động nhằm xoá bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Phá vỡ nền tảng tư tưởng cuả Đảng cộng sản Việt Nam, ra sức truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân. Lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hoá đồi trụy, lối sống phương Tây, để kích động lối sống tư bản trong thanh niên, từng bước làm phai mờ bản sắc văn hoá và giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam.
  • Thủ đoạn trong lĩnh vực dân tộc – tôn giáo: Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào còn thấp và những khuyết điểm trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo cuả một bộ phận cán bộ để kích động tư tưởng đòi li khai, tự quyết dân tộc. Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta để truyền đạo trái phép nhằm thực hiện âm mưu tôn giáo hoá dân tộc, từng bước gây mất ổn định xã hội và làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  • Thủ đoạn trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh: Các thế lực thù địch lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện xâm nhập, tăng cường hoạt động tình báo thu thập bí mật quốc gia. Chúng kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang. Đối với quân đội và công an, các thế lực thù địch chủ trương vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng với luận điệu “phi chính trị hoá” làm cho các lực lượng này xa rời mục tiêu chiến đấu.
  • Thủ đoạn trên lĩnh vực đối ngoại: Các thế lực thù địch lợi dụng chủ trương Việt Nam mở rộng hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để tuyên truyền và hướng Việt Nam theo quĩ đạo của chủ nghĩa tư bản. Hạn chế sự mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam đối với các nước trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự án đầu tư quốc tế vào Việt Nam. Đặc biệt chúng rất coi trọng việc chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Campuchia và các nước xã hội chủ nghĩa, hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

2.2.2 Bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam

– Chúng chú trọng nuôi dưỡng các tổ chức phản động sống lưu vong ở nước ngoài và kết hợp với các phần tử cực đoan, bất mãn trong nước gây rối, làm mất ổn định xã hội ở một số vùng nhạy cảm như Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ của Việt Nam. Chúng tiến hành nhiều hoạt động xảo quyệt để lôi kéo, mua chuộc quần chúng nhân dân lao động đứng lên biểu tình chống lại chính quyền địa phương. Vùng Tây Bắc, chúng kích động người H’Mông đòi thành lập khu tự trị. Vùng Tây Nguyên, chúng ra sức tuyên truyền thành lập nhà nước Đề Ga, chờ thời cơ thuận lợi để chúng tiến hành lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam

– Thủ đoạn cơ bản mà chúng đã sử dụng để tiến hành bạo loạn lật đổ chính quyền ở một số địa phương nước ta là: kích động sự bất hòa của quần chúng, dụ dỗ và cưỡng ép nhân dân biểu tình làm chỗ dựa cho lực lượng phản động trà trộn hoạt động đập phá trụ sở rồi uy hiếp, khống chế cơ quan quyền lực ở địa phương. Trong quá trình gây bạo loạn, bọn phản động tìm mọi cách để mở rộng phạm vi, quy mô, lực lượng và kêu gọi sự tài trợ tiền của, vũ khí ở ngoài nước vào để tăng sức mạnh.

– Yêu cầu đặt ra là phải nâng cao cảnh giác cách mạng, kịp thời phát hiện âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, dự báo đúng thủ đoạn, qui mô, địa điểm và thời gian. Nắm vững nguyên tắc sử lí trong đấu tranh chống bạo loạn lật đổ là: nhanh gọn, kiên quyết, linh động, đúng đối tượng, sử dụng lực lượng và phương thức đấu tranh phù hợp, không để lan rộng, kéo dài

2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm và phương châm phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của Đảng, Nhà nước ta.

2.3.1 Mục tiêu

–  Kẻ thù muốn chuyển hoá chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, vấn đề đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là phải:

  • Làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam
  • Giữ vững ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo môi trường hoà bình để đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
  • Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
  • Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá
  • Bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc

2.3.2 Nhiệm vụ

– Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định nhiệm vụ của chúng ta là:

  • Kiên quyêt làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “DBHB”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc. Đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng – an ninh hiện nay, đồng thời còn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài.
  • Phải chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta, kịp thời tiến công ngay từ đầu.
  • Xử lí nhanh chóng, có hiệu quả khi có bạo loạn xảy ra và luôn bảo vệ tốt chính trị nội bộ

2.3.3 Quan điểm chỉ đạo

  • Đấu tranh chống “DBHB” là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt, lâu dài và phức tạp trên mọi lĩnh vực.
  • Chống “DBHB” là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng- an ninh hiện nay để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
  • Phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trong đấu tranh chống “DBHB”

2.3.4 Phương châm tiến hành

  • Chủ động, khôn khéo, kiên quyết xử lí tình huống và giải quyết hậu quả khi có bạo loạn xảy ra, giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn
  • Xây dựng tiềm lực đất nước vững mạnh, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù đối với cách mạng Việt Nam

2.4 Những giải pháp phòng chống chiến lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay.

2.4.1 Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế.

  • Giữ vững sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt.
  • Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để giữ vững và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn ổn định.

2.4.2 Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nắm chắc mọi diễn biến không để bị động, bất ngờ.

  • Giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân Việt Nam, mọi tổ chức chính trị, xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù chống phá cách mạng Việt Nam.
  • Đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác cách mạng trong nội bộ nhân dân, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù chống phá nước ta hiện nay.
  • Mỗi người dân Việt Nam phải có tri thức, có bản lĩnh chính trị, có phương pháp xem xét, phát hiện và báo cáo kịp thời thủ đoạn chống phá của kẻ thù cho cơ quan có chức năng xử lí, không để bất ngờ.

2.4.3 Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân.

– Đối với nước ta, bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

  • Phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các thành quả cách mạng do chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mĩ và các thế lực thù địch tấn công quyết liệt vào độc lập chủ quyền của các quốc gia, dân tộc đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa trong đó có nước ta.
  • Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc phải mang tính toàn diện nhưng tập trung vào:

+ Giáo dục tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù chống phá nước ta

+ Giáo dục quan điểm điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

+ Giáo dục tinh thần xả thân vì Tổ quốc, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh

+ Hình thức giáo dục phải đa dạng, phù hợp với tùy từng đối tượng

2.4.4 Xây dựng cơ sở chính trị, xã hội vững mạnh về mọi mặt

  • Xây dựng cơ sở chính trị- xã hội vững mạnh sẽ bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Do vậy, phải luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng, mọi miền đất nước, đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, người trong nước và người đang sinh sống ở nước ngoài
  • Nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp, nhất là cơ sở.
  • Duy trì nghiêm kỷ luật của Đảng ở các cấp, xử lí kịp thời những đảng viên, tổ chức Đảng có khuyết điểm, khen thưởng kịp thời những đảng viên, tổ chức Đảng và quần chúng thực hiện tốt đường lối, chủ trương Điều lệ Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước

2.4.5 Chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh

  •  Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên phải rộng khắp ở tất cả các làng bản, xã phường, thị trấn, các cơ quan, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
  • Bảo đảm triển khai thế trận phòng thủ ở các địa phương, cơ sở.
  • Phải chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng nhưng lấy chất lượng là chính.

2.4.6 Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống “DBHB”, bạo loạn lật đổ của địch.

  • Mỗi thủ đoạn, hình thức, biện pháp mà kẻ thù sử dụng trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ cần có phương thức xử lí cụ thể, hiệu quả.
  • Khi mỗi tình huống bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, xử lí theo nguyên tắc nhanh gọn – kiên quyết – linh hoạt – đúng đối tượng – không để lan rộng, kéo dài.
  • Xây dựng đầy đủ, luyện tập các phương án sát với diễn biến từng địa phương, từng đơn vị, từng cấp, từng ngành
  • Hoạt động xử lí bạo loạn lật đổ phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, các ngành tham mưu, quân đội và công an.

2.4.7 Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động.

– Đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là để tạo ra cơ sở vật chất, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đồng thời là điều kiện để tăng năng suất lao động của xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động để tạo nên sức mạnh của thế trận “lòng dân”.

* Tóm lại:

– Những biện pháp trên đây có mối quan hệ chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể thống nhất nhằm đấu tranh ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của kẻ thù sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay. Do đó, trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ này không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hoá một giải pháp nào

– Đối với sinh viên – thế hệ tương lai của đất nước:

  • Phải có nỗ lực học tập và rèn luyện để trở thành công dân tốt, cống hiến cho đất nước
  • Phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng
  • Phát hiện, góp phần đấu tranh, ngăn ngừa và đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM

BÀI 5: XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN VIỆT NAM

 

I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1.1 Mục đích:

– Nhằm bồi dưỡng cho sinh viên nắm được đặc điểm, quan điểm, nguyên tắc và phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

1.2 Yêu cầu:

– Trên cơ sở nhận thức đó, sinh viên cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực góp phần vào xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện.

II. NỘI DUNG

2.1 Đặc điểm và những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

2.1.1 Khái niệm:

– Là tổ chức vũ trang và bán vũ trang của nhân dân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước XHCN Việt Nam quản lí.

– Nhiệm vụ:

+ Chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

+ Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và những thành quả cách mạng…

+ Cùng toàn dân xây dựng đất nước

+ Là lực lượng nòng cốt trong khởi nghĩa giành chính quyền, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân.

2.1.2 Đặc điểm liên quan đến xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

– Cả nước đang thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, trong khi CNĐQ và các thế lực thù địch chống phá ta quyết liệt

  • Hai nhiệm vụ chiến lược trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động với nhau để cùng thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Do đó, trong khi chúng ta đặt nhiệm vụ trọng tâm vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, không được 1 phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
  • Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn coi Việt Nam là một trọng điểm để phá hoại, chúng đẩy mạnh chiến lược “DBHB”, chống phá cách mạng Việt Nam về mọi mặt, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là một trọng điểm. Do đó, chúng ta cần phải nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chiến lược “DBHB” của địch để có kế hoạch phòng ngừa, bảo đảm xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh về mọi mặt

– Xây dựng LLVTND trong điều kiện quốc tế đã thay đổi, có nhiều diễn biến phức tạp.

  • Tình hình thế giới:

CNXH ở Liên xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ phong trào cách mạng giải phóng

dân tộc trên thế giới gặp nhiều khó khăn. Nhưng hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, chạy đua vũ trang (nhất là chạy đua vũ khí hạt nhân), khủng bố, tranh chấp biên giới, tài nguyên diễn ra ở nhiều nơi tính chất ngày càng phức tạp.

  • Khu vực Đông Nam Á:

Vẫn là tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định, các nước lớn đang tăng cường ảnh hưởng của mình để lôi kéo các nước ASEAN.

– Sự nghiệp đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, đất nước ta bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH và hội nhập kinh tế thế giới toàn diện hơn.

  • Thuận lợi cơ bản:

+ Tiềm lực và vị thế nước ta được tăng cường

+ Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đường lối độc lập tự chủ, sáng tạo.

+ Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

+ Lực lượng vũ trang ta tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân.

Trên cơ sở phát huy những thuận lợi của nước ta trong hiệp hội ASEAN, thành viên tổ chức thương mại thế giới để giữ vững môi trường hoà bình và phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Đó là nền tảng vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

  • Thách thức lớn: Đại hội Đảng X đề cập

+ Tụt hậu xa hơn về kinh tế

+ Suy thoái về chinh trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, lãng phí nghiêm trọng

+ Xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa

+ Chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch.

– Thực trạng của LLVT nhân dân ta.

Trong những năm qua, LLVT nhân dân ta đã có những bước trưởng thành lớn mạnh cả về bản lĩnh chính trị, chất lượng tổng hợp, trình độ chính quy, sức mạnh chiến đấu không ngừng được nâng lên. Đã hoàn thành tốt cả ba chức năng, xứng đáng là lực lượng nòng cốt đi đầu giải quyết hiệu quả những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp mà Đảng, nhà nước giao cho. Song trên thực tế cần tập trung tháo gỡ một số vấn đề sau :

  • Về chất lượng chính trị: Trên thực tế, trình độ lí luận, tính nhạy bén, sắc sảo và  bản lĩnh chính trị của không ít cán bộ, chiến sĩ ta chưa tương xứng với vị trí, yêu cầu, nhiệm vụ của LLVT trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
  • Về khả năng chiến đấu và trình độ SSCĐ của LLVT nhân dân cón có những mặt hạn chế, chưa đáp ứng được các tình huống phức tạp (nếu xảy ra). Công tác huấn luyện, đào tạo cán bộ còn có những nội dung bất cập, chưa thật sát với nhiệm vụ và năng lực thực hành theo cương vị đảm nhiệm.
  • Trình độ chính quy của Quân đội ta chưa đáp ứng được yêu cầu tác chiến hiện đại. Chấp hành kỷ luật của một bộ phận LLVT cón chuyển biến chậm, vẫn để xảy ra những vụ việc, ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của LLVT.
  • Về trang bị của LLVT còn lạc hậu, thiếu đồng bộ.

Vấn đề nghiên cứu phát triển hoàn thiện nền khoa học nghệ thuật quân sự Việt Nam trong thời kì mới cần được tổ chức một cách khoa học, phối hợp chặt chẽ giữa viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và thực tiễn…

2.1.3 Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng LLVT nhân dân trong thời kì mới

– Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với LLVT nhân dân

  • Ý nghĩa:

Là quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng LLVT nhân dân sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVT sẽ quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, phương hướng chiến đấu, đường lối tổ chức và cơ chế hoạt động, bảo đảm nắm chắc quân đội trong mọi tình huống.Thực tiễn cách mạng Việt Nam qua mấy chục năm qua đã chứng minh điều đó.

  • Nội dung:

+ Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo LLVT nhân dân theo nguyên tắc “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”, Đảng không nhường hoặc chia sẻ quyền lãnh đạo cho bất cứ giai cấp, lực lượng tổ chức nào. Đảng có hệ thống tổ chức từ trung ương đến cơ sở, lãnh đạo mọi họat động của LLVT.

+ Trong QĐND Việt Nam, Đảng lãnh đạo theo hệ thống dọc từ ĐUQSTƯ đến các đơn vị cơ sở trong toàn quân. Trực tiếp lãnh đạo các đơn vị ở địa phương (bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) là các cấp uỷ đảnng ở địa phương.

+ Đảng lãnh đạo trên mọi mặt hoạt động của LLVT nhân dân trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức… cả trong xây dựng và chiến đấu.

– Tự lực tự cường xây dựng LLVT

  • Cơ sở: Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về “xây dựng LLVT” và thực tiễn truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
    • Nội dung: Tự lực tự cường dựa vào sức mình để xây dựng, để giữ vững tín độc lập tự chủ, chủ động không bị chi phối ràng buộc.

+ Nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn xây dựng đơn vị VMTD.

+ Triệt để tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi về khoa học- công nghệ để xây dựng và phát triển LLVT nhân dân. Tập trung từng bước hiện đại hoá trang bị kỹ thuật quản lí khai thác bảo quản có hiệu quả trang bị hiện có…

+ Tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm.

– Xây dựng LLVT nhân dân lấy chất lượng là chính, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở

  • Cơ sở:

+ Xuất phát từ lí luận Mác- Lênin về mối quan hệ giữa số lượng với chất lượng

+ Từ thực tiễn xây dựng LLVT nhân dân, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở…

+ Từ sự chống phá của kẻ thù trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ nhằm phi chínhnh trị hóa quân đội…

  • Nội dung:

+ Nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng

+ Xây dựng LLVT nhân dân có chất lượng, toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức

+ Về chính trị phải thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVT nhân dân tin tưởng vào đường lối quan điểm của Đảng, chính sách của nhà nước.

+ Chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị trong LLVT nhân dân vững mạnh (tổ chức đảng, đoàn thanh niên, hội đồng quân nhân…).

+ Chăm lo xây dựng cơ quan chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ chính trị, đảng viên có phẩm chất năng lực tổt đủ sức lãnh đạo đơn vị.

– Bảo đảm LLVT luôn trong tư thế SSCĐ và CĐ thắng lợi

  • Cơ sở:

+ Đây là quan điểm phản ánh chức năng, nhiệm vụ chủ yếu cơ bản, thường xuyên của LLVT nhân dân chủ động đối phó kịp thời và thắng lợi trong mọi tình huống xảy ra.

  • Nội dung:

+ LLVT nhân dân phải luôn trong tư thế SSCĐ, đánh địch kịp thời, bảo vệ được mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

+ Xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh về mọi mặt, duy trì và chấp hành

nghiêm các chế độ, quy định về SSCĐ, trực ban, trực chiến, trực chỉ huy…

2.2 Phương hướng xây dựng LLVT nhân dân trong giai đoạn mới

2.2.1 Xây dựng quân đội nhân dân theo hướng cách mạng chính quy tinh nhuệ từng bước hiện đại

Xây dựng quân đội cách mạng: Đây là vấn đề cơ bản hàng đầu trong nhiệm vu xây dựng quân đội của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng.

  • Nội dung:

+ Xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội, làm cho lực lượng này tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân.

+ Chấp hành mọi đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước.

+ Kiên định mục tiêu lí tưởng xã hội chủ nghĩa, vững vàng trước mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

+ Trước diễn biến tình hình phải phân biệt được đúng sai

+ Có tinh thần đoàn kết quân dân, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quốc tế tốt

+ Kỉ luật tự giác nghiêm minh, dân chủ rộng rãi

Chính qui: Là thực hiện thống nhất về mọi mặt (tổ chức, biên chế, trang bị). Dựa trên những chế độ, điều lệnh qui định, đưa mọi hoạt động của quân đội vào nề nếp

  • Nội dung:

+ Thống nhất về bản chất cách mạng, mục tiêu chiến đấu, về ý chí quyết tâm, nguyên tắc xây dựng quân đội, về tổ chức biên chế trang bị.

+ Thống nhất về quan điểm tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự, về phương

pháp huấn luyện giáo dục.

+ Thống nhất về tổ chức thực hiện chức trách nề nếp chế độ chính qui, về quản lí bộ đội, quản lí trang bị

Tinh nhuệ: Biểu hiện mọi hoạt động của quân đội trên các lĩnh vực đạt hiệu quả cao

  • Nội dung:

+ Tinh nhuệ về chính trị: Trước diễn biến của tình hình, có khả năng phân tích và kết luận chính xác đúng sai, từ đó có thái độ đúng đắn với sự việc đó

+ Tinh nhuệ về tổ chức: Tổ chức gọn nhẹ nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao

+ Tinh nhuệ về kĩ chiến thuật: Phải giỏi sử dụng các loại binh khí kĩ thuật hiệnc có, biết sử dụng trang bị vũ khí hiện đại. Giỏi các cách đánh, vận dụng mưu trí sáng tạo các hình thức chiến thuật

Từng bước hiện đại: Đi đôi với chính qui, tinh nhuệ phải từng bước hiện đại hóa quân đội về trang bị, vũ khí. Hiện đại hoá là một tất yếu nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội ta

  • Nội dung: Từng bước đổi mới vũ khí, trang bị kĩ thuật cho quân đội

+ Xây dựng quân đội nhân dân có bản lĩnh trí tuệ và năng lực hành động, đáp ứng yêu cầu tác chiến hiện đại.

+ Phát triển các quân binh chủng kĩ thuật, có nghệ thuật quân sự hiện đại, khoa học quân sự hiện đại, có hệ thống công nghiệp quốc phòng hiện đại,… bảo đảm cho quân đội hoạt động trong mọi điều kiện chiến tranh hiện đại

+ Những nội dung trên là cả một quá trình phấn đấu lâu dài mới đạt được, hiện nay ta phải thực hiện bước đi: “từng bước”

2.2.2 Xây dựng lực lượng dự bị động viên

Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, được huấn luyện và quản lí tốt, bảo đảm khi cần thiết có thể động viên nhanh theo kế hoạch.

Số liệu tham khảo:

 

 

Nước

 

Lực lượng thường trực

 

Lực lượng DBĐV

 

    Mĩ

Trung Quốc

Nhật Bản

Thái lan

Singapo

152,3 vạn

270 vạn

2,4 vạn

33,1 vạn

5,3 v ạn

                   213 vạn

300 vạn

Phòng vệ  4,8 vạn

50 vạn

18,2 v ạn

 

2.2.3 Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ

Bác Hồ nói: “Dân quân tự vệ và du kích là một lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc, vô luận kẻ thù hung bạo thế nào, hễ đụng đến lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”.

+ Năm 1990, Chính phủ đã ban hành Điều lệ dân quân tự vệ.

+ Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004, đây là sự thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng LLVT quần chúng.

  • Nội dung:

+ Dân quân tự vệ được xây dựng rộng khắp ở tất cả các thôn, xóm, bản làng, nông trường, công trường, doanh nghiệp, nhưng có trọng điểm, chú ý hình thức phù hợp trong các hành phần kinh tế.

+ Chú trọng xây dựng cả về số lượng và chất lượng, lấy chất lượng là chính, tỏ chức biên chế phù hợp. Huấn luyện phải thiết thực, hiệu quả.

Có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, đào tạo cán bộ dân quân tự vệ. Thực hiện các chính sách với dân quân tự vệ.

2.3 Những biện pháp chủ yếu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân

– Chấn chỉnh tổ chức biên chế lực lượng vũ trang nhân dân

  • Bộ đội chủ lực: Tổ chức các đơn vị phải gọn, mạnh, cơ động nhanh, có sức chiến đấu cao. Bố trí các binh đoàn chủ lực phải gắn với thế trận quốc phòng- an ninh nhân dân trên cả nước cũng như từng vùng chiến lược.
  • Bộ đội địa phương: Phải căn cứ vào tình hình cụ thể để tổ chức và bố trí cho phù hợp với từng địa phương và thế trận cả nước.
  • Bộ đội biên phòng: Cần có số lượng, chất lượng cao, tổ chức hợp lí, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, vùng biển, đảo…. theo nhiệm vụ được giao.
  • Dân quân tự vệ: Được tổ chức trên cư sở lực lượng chính trị ở từng đơn vị hành chính, đơn vị sản xuất và dân cư ở cơ sở, có số lượng phù hợp chất lượng cao.

– Nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, xây dựng và phát triển khoa học quân sự Việt Nam.

– Từng bước giải quyết yêu cầu về vũ kí, trang bị kỹ thuật của LLVT nhân dân.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ LLVT nhân dân có phẩm chất, năng lực tốt.

– Thực hiên nghiêm túc và đầy đủ các chinh của Đảng, nhà nước đôí với LLVT nhân dân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?