các phương thức huy động vốn của doanh nghiệp

I.Nguồn vốn tự có của chủ doanh nghiệp

1.Khái niệm

Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của doanh nghiệp do các chủ sở hữu đóng góp và nó còn được tạo ra trong qúa trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. 

Về mặt quản lý, theo các cơ quan quản lý, vốn tự có của DN được chia làm hai loại: 

 - Vốn tự có cơ bản bao gồm vốn điều lệ (vốn ngân sách cấp, vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi vĩnh viễn), quỹ dự trữ, dự phòng, lợi nhuận không chia và các khoản khác (các tài sản nợ khác theo qui định của ngân hàng nhà nước). 

- Vốn tự có bổ sung bao gồm vốn cổ phần ưu đãi có thời hạn, tín phiếu vốn, trái phiếu chuyển đổi.

Về nguồn gốc, vốn tự có phụ thuộc vào hình thức sở hữu doanh nghiệp:

- Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn tự có ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước.

- Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng kí thành lập doanh nghiệp. Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, nguồn vốn do các cổ đông đóng góp là yếu tố quyết định hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ.

- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng tương tự như trên, tức là vốn có thể do chủ sở hữu bỏ ra, do các bên tham gia, do các đối tác đóng góp…

2.Đặc điểm của vốn tự có 

° Vốn tự có là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong qúa trình hoạt động của DN

° Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của DN,. 

 

3.Phương pháp tăng vốn tự có 

° Nguồn bên ngoài: 

 - Phát hành cổ phiếu thường: 

Ưu điểm: Không phải hoàn trả cho người mua cổ phiếu, cổ tức của cổ phiếu thường không phải là gánh nặng về tài chính cho DN  trong những năm làm ăn thua lỗ. Phương pháp này làm tăng quy mô vốn nên cũng làm tăng khả năng vay nợ của DN trong tương lai. 

Nhược điểm: Chi phí cao và có thể làm loãng quyền sở hữu DN, giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu (Earning per share),. 

 

- Phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn: 

Ưu điểm: Không phải hoàn trả vốn và không làm phân tán quyền kiểm soát

Nhược điểm: Cổ tức phải trả cho các cổ đông là gánh nặng tài chính trong những năm DN thua  lỗ, chi phí phát hành cao, giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu. 

- Phát hành giấy nợ thứ cấp (thời hạn tối thiểu 7 năm): 

Ưu điểm: Chi phí thấp và không làm phân tán quyền kiểm soát củaDN. Đây là phương pháp hiệu qủa vì trái phiếu này được các nhà đầu tư ưa chuộng trên thị trường. 

Nhược điểm: Phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi đến hạn, lãi trả cho trái phiếu là gánh nặng cho DN về tài chính. 

DN còn có thể thực hiện các biện pháp tăng vốn từ nguồn bên ngoài khác như bán tài sản và thuê lại, chuyển đổi chứng khoán nợ thành cổ phiếu… 

° Nguồn bên trong: 

Chủ yếu do tăng lợi nhuận giữ lại. Đây là lợi nhuận DN đạt được trong năm, nhưng không chia cho các cổ đông mà giữ lại để tăng vốn. 

Ưu điểm: Không tốn kém chi phí, không làm loãng quyền kiểm soát DN và không phải hoàn trả. Phương pháp này giúp DN  không phụ thuộc vào thị trường vốn nên tránh được chi phí huy động vốn. 

Hạn chế: Chỉ áp dụng với các DN lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này không thể áp dụng thường xuyên vì nó làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. 

Phương pháp này phụ thuộc vào: 

 a) Chính sách cổ tức của DN: Chính sách này cho biết DN cần phải giữ lại bao nhiêu thu nhập để tăng vốn phục vụ cho mở rộng kinh doanh và bao nhiêu thu nhập sẽ được chia cho các cổ đông. Ta có: 

 Tỷ lệ thu nhập giữ lại
(Lợi nhuận không chia) 

 

Mức thu nhập giữ lại 

Thu nhập sau thuế 

 

 
Tỷ lệ chi trả cổ tức   = 

Tổng giá trị cổ tức 

Thu nhập sau thuế 

Tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn DN sẽ chậm, dẫn đến giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản. Ngược lại, nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của DN bị giảm. 

 b) Tốc độ tăng vốn từ nguồn nội bộ: Một tỷ lệ tăng trưởng vốn từ nguồn nội bộ lý tưởng phải đáp ứng cả hai yêu cầu: Một là, DN tăng trưởng được tài sản có (đạc biệt là các khoản cho vay); Hai là, không làm suy giảm quá mức tỷ số vốn/tài sản của DN.

4.Ưu nhược điểm của vốn tự có

a)   Ưu điểm:

- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài

- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp

- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong quan hệ tín dụng tại các ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các cổ đông

- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo

b) Nhược điểm

- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp.

II.Vốn tín dụng ngân hàng và vốn tín dụng thương mại

1.Vốn tín dụng ngân hàng

a)Khái niệm.

+/ Tín dụng ngân hàng:là quan hệ giữa ngân hàng,các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả.Tín dụng ngân hàng có ít nhất một bên tham gia là ngân hàng và đối tượng cho vay trong tín dụng là tiền tệ.

+/ Nguồn vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất,không chỉ đối với sự phân tích của các doanh nghiêp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình hoạt động thường vay ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh,đặc biệt là đảm bảo có đủ nguồn vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp.

b)Phân loại

Về mặt thời hạn gồm:

          – Vay dài hạn (thường từ 5 năm trở lên)

          -Vay trung hạn (từ 1 đến 5 năm)

          -Vay ngắn hạn (dưới 1 năm)

Theo tính chất và mục đích sử dụng:

          – Vay đầu tư tài sản cố định

          – Vay vốn lưu động

          – Vay để phục vụ dự án.

Ngoài ra,còn có thể phân chia theo ngành kinh tế,theo lĩnh vực phục vụ hoặc theo hình thức bảo đảm của khoản vay.

c)Các hình thức tín dụng ngân hàng

Doanh nghiệp vay để đầu tư vào tài sản cố định và phục vụ dự án có thể vay ngân hàng theo hình thức cầm cố, thế chấp tài sản, thông qua bên thứ 3 để bảo lãnh cho mình hoặc vay dýới hình thức trả góp…

- Đối với những doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có thể sử dụng uy tín của mình với ngân hàng (Thanh toán nợ đúng hẹn, khách hàng thân quen…) để vay tín chấp.

- Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khi mà tài sản để thế chấp cầm cố chỉ có thể vay của ngân hàng một lượng vốn nhỏ không đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì có thể nhờ uy tín của bên thứ 3 bảo lãnh, tham gia vào Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ…

Doanh nghiệp vay để bổ sung vốn lưu động: có thể vay ngân hàng dưới hình thức vay thấu chi, vay trực tiếp từng lần, cầm cố thế chấp tài sản, tín chấp, bảo lãnh…

d)Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng ngân hàng

- Điều kiện vay vốn: doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng cần có những điều kiện sau:

    + Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp

    + Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời gian cam kết

    + Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật

- Thủ tục vay vốn: Để vay được vốn ngân hàng, doanh nghiệp cần chuẩn bị bộ hồ sơ vay vốn gồm:

   + Giấy đề nghị vay vốn

   + Giấy phép kinh doanh

   + Dự án, phương án sản xuất kinh doanh, kế hoạch trả nợ

   + Hồ sơ tài sản thế chấp cầm cố

   + Hồ sơ tài liệu khác theo yêu cầu của ngân hàng

- Lãi suất vay: khi vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp thường phải chịu mức lãi suất phụ thuộc vào kì hạn của khoản vay, doanh nghiệp có phải đối tương ưu đãi hay không. Lãi suất doanh nghiệp phải trả thường là lãi cố định

- Thời hạn vay: doanh nghiệp có thể vay ngân hàng dưới hình thức ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

- Rủi ro – áp lực thanh toán: Định kì, doanh nghiệp phải trả lãi cho ngân hàng ngay cả khi doanh nghiệp làm ăn không có lãi, nếu không doanh nghiệp sẽ phải chịu lãi suất phạt của ngân hàng. Đến hạn trả gốc, nếu doanh nghiệp mất khả năng chi trả thì tài sản đảm bảo của doanh nghiệp bị phát mãi hoặc bên thứ ba đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp khi vay sẽ phải chịu trách nhiệm trả hộ cho doanh nghiệp. Điều này gây ảnh hưởng rất xấu về uy tín của doanh nghiệp với ngân hàng.

c)Ưu nhược điểm của nguồn vốn tín dụng ngân hàng

- Ưu điểm:

   + Đối với doanh nghiệp lớn:

        Tập trung cùng một lúc nguồn vốn lớn

        Mức độ rủi ro thấp hơn các doanh nghiệp nhỏ

   + Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ: ngày nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của nhà nước để có thể tiếp cận nguồn vốn này

- Nhược điểm:

          Điều kiện tín dụng: Các ngân hàng thương mại khi cho doanh nghiệp vay vốn luôn phải đảm bảo an toàn tín dụng,hạn chế các rủi ro thông qua một hệ thống các biện pháp bảo đảm tín dụng như:

          + Phân tích hồ sơ xin vay vốn

          + Đánh giá các thông tin liên quan  đến dự án đầu tư.

          + Kế hoạch sản xuất kinh doanh của 1 doanh nghiệp vay vốn.

          Các điều kiện đảm bảo tiền vay: Khi doanh nghiệp xin vay vốn,cần phải có các đảm tín dụng, phổ biến nhất là tài sản thế chấp.

          Sự kiểm soát của ngân hàng cho vay: doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục đích sử dụng và tình hình sử dụng vốn vay.

          Lãi suất vay vốn: phản ánh chi phí sử dụng vốn,lãi suất vốn sử dụng ngân hàng phị thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng thời kì.

 

2.Tín dụng thương mại

a)Khái niệm:

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hóa. Là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền.

Đến thời hạn đã thỏa thuận, doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho doanh nghiệp bán dưới hình thái tiền tệ

- Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hóa chưa phải trả tiền ngay là doanh nghiệp đã được nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi là tín dụng của nhà cung cấp

- Để đảm bảo người mua phải trả nợ đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi một chứng cứ pháp lý, đó chính là giấy tờ chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, giấy tờ này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do người mua lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là thương phiếu.

b)Phân loại:

Có ba loại tín dụng thương mại:

+/ Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu;

+/ Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu;

+/ Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu.

VÍ DỤ:

+Tín dụng thương mại là tín dụng ma 2 doanh nghiệp mua bán hàng hóa với nhau.Khi người bán cho người mua chịu và trả nợ trong thời gian nhất định.

+ Tín dụng ngân hàng: là nhà nước cho doanh nghiệp vay.

c)Ưu nhược điểm

- Ưu điểm:

   + Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh

   + Giúp doanh nghiệp có thể mở rộng quan hệ hợp tác kinh doanh một cách lâu bền

   +Chủ động khi huy động vốn và huy động vốn được nhanh chóng, dễ dàng

   + Không phải chịu sự giám sát của ngân hàng cũng như các cơ quan nhà nước

-         Nhược điểm:

   + Hạn chế về quy mô tín dụng: số lượng mua chịu và khả năng của nhà cung ứng

   + Hạn chế về đối tượng vay mượn

   + Hạn chế về không gian vay mượn

   + Phụ thuộc vào quan hệ sản xuất kinh doanh trên thị trường

   + Dễ gặp rủi ro dây chuyền

III. Nguồn vốn phát hành cổ phiếu.

Phát hành cổ phiếu là một kênh rất quan trọng để huy động vốn dài hạn cho công ty một cách rộng rãi thông qua mối liên hệ với thị trường chứng khoán.

1.Khái niệm cổ phiếu thông thường (cổ phiếu thường ).

Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó.

2.Phân loại

Khi xem xét cổ phiếu của công ty cổ phần, thường có sự phân biệt cổ phiếu được phép phát hành, cổ phiếu đã phát hành, cổ phiếu quỹ, cổ phiếu đang lưu hành.

Cổ phiếu được phép phát hành ( vốn cổ phấn được phép phát hành) có số lượng phụ thuộc vào quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền. Con số này cũng được ghi vào điều lệ của công ty.Nó là số lượng cổ phiếu tối đa của một công ty có thể phát hành từ lúc bắt đầu thành lập cũng như trong suốt quá trình hoạt động. Khi cần có sự thay đổi số lượng cổ phiếu được phép phát hành thì phải được đa số cổ đông bỏ phiếu tán thành và phải sửa đổi điều lệ công ty.

Cổ phiếu đã phát hành: là cổ phiếu mà công ty được bán ra cho các nhà đầu tư trên thị trường và công ty đã thu về được toàn bộ tiền bán số cổ phiếu đó, nó nhỏ hơn hoặc tối đa là bằng với số cổ phiếu được phép phát hành.

Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu đã được giao dịch trên thị trường và được chính tổ chức phát hành mua lại bằng nguồn vốn của mình. Số cổ phiếu này có thể được công ty lưu giữ một thời gian sau đó lại được bán ra; luật pháp một số nước quy định số cổ phiếu này không được bán ra mà phải hủy bỏ. Cổ phiếu quỹ không phải là cổ phiếu đang lưu hành, không có vốn đằng sau nó; do đó không được tham gia vào việc chia lợi tức cổ phần và không có quyền tham gia bỏ phiếu.

Cổ phiếu đang lưu hành: là cổ phiếu đã phát hành, hiện đang lưu hành trên thị trường và do các cổ đông đang nắm giữ. Số cổ phiếu đang lưu hành được xác định như sau:

Số cổ phiếu đang lưu hành = Số cổ phiếu đã phát hành – Số cổ phiếu quỹ

Dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh.

Cổ phiếu ghi danh: là cổ phiếu có ghi tên người sở hữu trên tờ cổ phiếu. Cổ phiếu này có nhược điểm là việc chuyển nhượng phức tạp, phải đăng ký tại cơ quan phát hành và phải được Hội đồng Quản trị của công ty cho phép.

 

 

 

 

Cổ phiếu vô danh: là cổ phiếu không ghi tên người sở hữu. Cổ phiếu này được tự do chuyển nhượng mà không cần thủ tục pháp lý      

Trong trường hợp công ty có cả hai loại cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, người ta sẽ xác định cụ thể cho từng loại một. Số cổ phiếu thường đang lưu hành là căn cứ quan trọng để phân chia lợi tức cổ phần trong công ty.

 

3.Mệnh giá và thị giá của cổ phiếu.

Mệnh giá là giá trị ghi trên mặt cổ phiếu. Nó còn được ghi rõ trong giấy phép phát hành và trên sổ sách kế toán của công ty. Tuy nhiên, mệnh giá chỉ có ý nghĩa khi phát hành cổ phiếu và đối với khoảng thời gian ngắn sau khi cổ phiếu được phát hành

Mệnh giá thể hiện số tiền tối thiểu Công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà Công ty phát hành ra.

Một số nước luật pháp cho phép Công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường không có mệnh giá.

Thị giá là giá cả của cổ phiếu trên thị trường. Nó phản ánh quan hệ cung cầu trên thị trường đối với cổ phiếu đó, phản ánh lòng tin của nhà đầu tư đối với hoạt đông của công ty do đó nó thường xuyên biến động

Giá trị ghi sổ là trị giá của cổ phiếu được phán ánh trong sổ sách kế toán của công ty.

Trường hợp công ty chỉ phát hànhcổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành.

Trường hợp công ty phát hành cảcổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành.

Cổ phiếu ưu đãi thường có mức cổ túc cố định. Người chủ của cổ phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường (nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kì đó). Cổ tức của của cổ phiếu ưu đãi được lấy từ lợi nhuận sau thuế. Kể từ 1/1/2009, các khoản thu nhập từ đầu tư và chuyển nhượng vốn sẽ bị đánh thuế thu nhập cá nhân với thuế suất 5% hoặc 20% (Trong đó bao gồm cả cổ tức, lãi trái phiếu, tín phiếu (trừ lãi trái phiếu Chính phủ), khoản chênh lệch giữa giá thị trường và giá vốn của cổ phiếu được mua ưu đãi)

Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi công ty phát hành và cộng với phần cổ tức công ty còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ trước đó (nếu có).

Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép Cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn góp ban đầu.

4. Quyền hạn của cổ đông.

Cổ đông có quyền trước hết với tài sản và sự phân chia tài sản hoặc thu nhập của của công ty.

Đề cử thành viên Hội đồng quản trị.

5.Chứng khoán có thể chuyển đổi.

Khái niệm: là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định có thể đổi nó thành một chứng khoán khác.

Gồm 2 loại là giấy đảm bảo và trái phiếu chuyển đổi.

Giấy đảm bảo: người sở hữu giấy đảm bảo có thể mua một số loại cổ phiếu thường được quy định trước với giá cả và thời gian xác định.

Trái phiếu chuyển đổi: cho phép có thể chuyển đổi thành một số lượng nhất định các cổ phiếu thường.

Những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường phổ biến là: Cổ phiếu ưu đãi; Trái phiếu.

Mục đích của việc phát hành và đầu tư vào chứng khoán chuyển đổi:

Phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi là nhằm huy động thêm vốn vào những thời điểm chưa thích hợp cho việc phát hành cổ phiếu thường. Việc phát hành chứng khoán có thể chuyển đổi cũng có thể nhằm mục đích tăng thêm tính hấp dẫn cho đợt phát hành, nhất là khi thị trường trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi đang xuống giá.

Lợi ích của trái phiếu chuyển đổi:

- Đối với bên phát hành: do việc người đầu tư sẽ được hưởng quyền chuyển đổi trái phiếu này ra cổ phiếu thường khi đến hạn, nên:

Nếu là trái phiếu: bên phát hành sẽ bán trái phiếu ra với lãi suất thấp.

Nếu là cổ phiếu ưu đãi: bên phát hành sẽ chào bán với giá cao.

Khi các chứng khoán được chuyển đổi, nhà phát hành còn có lợi vì loại bỏ được các khoản cố định phải trả, đồng thời tăng thêm số lượng cổ đông của công ty, một chỉ báo có lợi cho danh tiếng của công ty.

- Đối với người đầu tư:

Chứng khoán có thể chuyển đổi có sức hấp dẫn ở chỗ chúng kết hợp được tính an toàn của trái phiếu (thu nhập cố định) với tính có thể đầu cơ của cổ phiếu thường.

Chứng khoán có thể chuyển đổi cho phép nhà đầu tư có thể được bảo hiểm trước tình trạng lạm phát.

Tuy nhiên, những lợi ích của việc thực hiện chuyển đổi tùy thuộc nhiều vào giá chuyển đổi, tỷ lệ chuyển đổi, và tương quan giá giữa công cụ có thể chuyển đổi với những công cụ mà chúng có thể chuyển đổi thành. Đó là những yếu tố thường không nằm trong tầm kiểm soát của người đầu tư.

Ví dụ 1: một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 đồng; nếu cứ 50.000 đồng được đổi lấy một cổ phần của cổ phiếu thường, thì giá chuyển đổi là 50.000 đồng; hệ số chuyển đổi là 1.000.000 đồng: 50.000 đồng = 20 (cổ phần).

Ví dụ 2: Giả sử trái phiếu trên đang có giá là 1.045.000 đồng; được chuyển thành 100 cổ phần của một cổ phiếu thường. Giá tương đương chuyển đổi là 1.045.000 đồng:100 = 10.450 đồng. Điều đó có nghĩa là giá trị trường của cổ phiếu ít nhất phải bằng 10.045 đồng thì việc nắm giữ trái phiếu và chuyển đổi nó thành cổ phiếu mới được coi là tương đương về mặt giá trị. Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá tương đương chuyển đổi thì việc chuyển đổi sẽ đem lại một phần lợi nhuận.

Trên thực tế rất có thể giá cổ phiếu không lên tới mức mà người nắm giữ trái phiếu có thể chuyển đổi trái phiếu để thu lợi nhuận.

IV.Nguồn vốn nội bộ

1.Khái niệm

Là nguồn vốn tích lũy từ lợi nhuận không chia, là một phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư.

2.Tác động của việc sử dụng nguồn vốn nội bộ

Nguồn vốn nội bộ hay còn gọi là nguồn vốn từ lợi nhuận không chia, nó là 1 phần của lợi nhuận được để lại để tái đầu tư. Đó là một trong những cách giúp doanh nghiệp phát triển trong tương lai. Đó là nguồn “vốn đầu tư mạo hiểm” tốt nhất cho một doanh nghiệp đang hoạt động, chính là số tiền mà công ty đó đang thực sự tạo ra. Lợi ích từ việc sử dụng nguồn vốn nội bộ là đem lại lợi nhuận đủ lớn đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng mà không phải chịu lãi từ việc vay vốn bên ngoài.

          Việc tái đầu tư lợi nhuận trong kinh doanh chính là bí quyết để có được sự phát triển lâu dài thành công. Đây chính là vốn “kiên nhẫn” để xây dựng giá trị cho doanh nghiệp mà không cần phải nợ nần hay chia sẻ lợi nhuận với các đối tác khác. Vậy nên, khoảng 46% các chủ doanh nghiệp được American Express khảo sát đều nói rằng họ đã hoạch định tài chính cho sự phát triển của mình bằng cách tái đầu tư lợi nhuận.

Với công ty nhà nước, với nguồn vốn tự có ban đầu là từ ngân sách nhà nước, thì tái đầu tư phụ thuộc vào khả năng sinh lời của doanh nghiệp và cả chính sách tái đầu tư của nhà nước

Theo thông tư SỐ 1034-HTĐT/TĐ NGÀY 1-8-1992 CỦA UỶ BAN NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC VÀ ĐẦU TƯ HƯỚNG DẪN VỀ VIỆC DÙNG LỢI NHUẬN ĐỂ TÁI ĐẦU TƯ
Nhằm thực hiện Điều 32 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Điều 74 Nghị định 28-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư hướng dẫn việc dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư ở Việt Nam như sau:
1. “Tái đầu tư” là dùng lợi nhuận thu được do hoạt động đầu tư ở Việt Nam để:
– Tăng (hoặc góp phần tăng) vốn pháp định hoặc vốn đầu tư của một dự án đang thực hiện; hoặc
– Đầu tư vào một dự án mới ở Việt Nam
2. Số lợi nhuận dùng để tái đầu tư từ 3 năm trở lên(nghĩa là dùng lợi nhuận làm vốn đầu tư trong thời gian ít nhất là 3 năm), được hoàn lại số thuế lợi tức đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư đó.
3. Khi phát sinh việc dùng lợi nhuận để tái đầu tư, nhà đầu tư có thể lập hồ sơ kèm theo đơn xin phép hoàn lại số thuế lợi tức đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư gửi đến Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư

   
·   Với công ty cổ phần, tức là công ty có nguồn vốn được hình thành chủ yếu do các cổ đông đóng góp thì việc tái đầu tư theo phương pháp này có liên quan đến một số yếu tố nhạy cảm. Cụ thể, khi công ty để lại một phần lợi nhuận trong năm cho tái đầu tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó đẻ chia lãi cổ phần. Các cổ đông không được nhận tiền lãi cổ phần(cổ tức) nhưng bù lại , họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng lên của công ty.

    Việc tự tài trợ từ vốn nội bộ giúp trị giá ghi sổ của các cổ phiếu tăng lên. Điều này, một mặt khuyến khích cổ đông trong công ty giữ cổ phiếu lâu dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước mắt, do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn. Nếu tỷ lệ lợi nhuận dùng để chi trả cổ tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá cổ phiếu sẽ bị giảm sút.
    Khi nói đến nguồn vốn tái đầu tư của các công ty cổ phần, không thể không lưu ý tới tầm quan trọng của chính sách phân phối cổ tức. Chính sách phân phối cổ tức của công ty cổ phần phải tính đến một số khía cạnh:
    – tổng số lợi nhuận ròng trong kỳ
    – Mức chia lãi trên một cổ phiếu của các năm trước
    -Sự sếp hạng cổ phiếu trên thị trường và tính ổn định của thị giá cổ phiếu của công ty,
    – Hiệu quả của việc tái đầu tư từ nguồn lợi nhuận để lại.
* Ví dụ việc sủ dụng nguồn vốn nội bộ của một số công ty:
    Ở nước Mỹ, trong tổng nguồn tài chính nội bộ của nước này, nguồn tài trợ chính nội bộ có thể chiếm tỷ trọng từ 40%- 50%. Trong một số năm, tỷ trong nguồn tài chính nội bộ rất cao, có thời kỳ mức trung bình rất cao như năm 1992 tỷ trọng này ở mức 80%.
    Phát hành trái phiếu huy động vốn thay vì trông đợi vào nguồn vốn NH cũng đang được nhiều DN quan tâm và đạt kết quả khá tốt. Theo ông Trần Quốc Toản, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cơ khí GTVT Sài Gòn (SAMCO), SAMCO không bị phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn NH vì hiện SAMCO vẫn thực hiện việc huy động vốn từ trái phiếu nội bộ với lãi suất từ 12%-14%/năm (kỳ hạn từ 3-6 tháng). Mỗi năm, SAMCO có thể huy động được hơn 20 tỉ đồng.
Tổng Công ty Bến Thành cũng huy động được hơn 60 tỉ đồng/năm từ CBCNV bằng hình thức làm hợp đồng tín dụng nội bộ vay nóng với lãi suất 16%/năm.
Microsoft cũng là một ví dụ của các công ty trong lịch sử đóng vai trò của người đề xuất ra thu nhập giữ lại;  các cổ phiếu như Microsoft từ trước đến nay không thanh toán cổ tức cho cổ đông công ty này đã đem bán cổ phần của mình ra phạm vi công cộng từ năm 1986 cho đến tận năm 2003, khi công ty thông báo là có thể chi trả cổ tức. năm 2003 thanh toán cổtức năm (0,16 USD) Trong những năm đó Microsoft đã tích lũy được trên 43 tỷ đô la Mỹ bằng tiền, tính đến 30.6.2003 vốn cổ phần thường của Microsoftlà 35.344.000.000 USD, lợi nhuận giữ lại là 25.676.000.000 USD đạt 72,65% so với vốn cổ phiếu thường. Như vậy đây là một nguồn vốn không nhỏ nếu chúng ta biết cách phát huy nó một cách có hiệu quả.

V.Phát hành trái phiếu công ty

 

1.Khái niệm

Trái phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích đòi nợ hợp pháp của người sở hữu trái phiếu đối với tài sản của tổ chức phát hành

2. Phân loại

- Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả một mức lãi suất cố định được quy định ngay từ thời điểm phát hành

- Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phải trả mức lãi suất thả nổi theo lãi suất thị trường hoặc điều chỉnh của doanh nghiệp

- Trái phiếu có thể thu hồi: là loại trái phiếu mà doanh nghiệp có thể thu hồi sớm hơn thời hạn

- Trái phiếu có thể chuyển đổi: là loại trái phiếu cho phép các trái chủ được quyền chuyển đối sang một số lượng cổ phiếu thường xác định ở một giá xác định và trong một khoảng thời gian nhất định

3. Đặc điểm của việc huy động vốn từ phát hành trái phiếu

a. Điều kiện, thủ tục phát hành: Tùy từng quốc gia và lãnh thổ mà điều kiện thủ tục khác nhau:

 Ở Việt Nam, điều kiện phát hành trái phiếu được quy định trong điều 8 Nghị định 144/2003/NĐ-CP: doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu phải có điều kiện sau:

- Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng kí phát hành tối thiểu là 10 tỷ đồng

- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí phát hành phải có lãi

- Phải có tổ chức bảo lãnh phát hành

b. Quy mô phát hành: doanh nghiệp chỉ được phát hành một lượng trái phiếu nhất định dưới sự cho phép của Ủy ban chứng khoán nhà nước

c. Thời hạn và lãi suất: lãi suất trái phiếu thường thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng và lợi tức cổ phiếu thường

d. Phương thức thanh toán: doanh nghiệp có thể thanh toán theo phương thức trả lãi trước hoặc trả lãi sau

e. Áp lực thanh toán: doanh nghiệp phải chịu áp lực thanh toán tiền lãi trái phiếu hàng năm và trả nợ gốc khi đáo hạn.

About these ads
This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s